Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích khổ 6 bài thơ Việt Bắc. Tố Hữu là một nhà thơ mang đậm chất dân tộc, những tác phẩm những bài thơ ông viết ra nồng nàn và thường gắn liền với các sự kiện lịch sử. Bài thơ Việt Bắc là một khúc tình ca nồng nàn và cũng là khúc Phân tích khổ thơ 7 trong bài thơ Việt Bắc Tố Hữu - Văn mẫu 1. "Việt Bắc" - bài thơ lục bát mang tầm vóc của một bản anh hùng ca dài 150 câu, cảm xúc mênh mang. Bài thơ ra đời vào tháng 10 năm 1054, ngày Hà Nội được giải phóng. Qua bài thơ, Tố Hữu đã thể hiện tha 7. Phân tích Việt Bắc đoạn 1. Nhắc đến Tố Hữu, người ta sẽ nhớ ngay đến hình ảnh của một nhà thơ luôn đi đầu trong phong trào nghệ thuật vì nền cách mạng nước nhà. Con đường thơ ca của Tố Hữu luôn gắn liền với những hình ảnh, sự kiện nổi bật của dân tộc Dàn ý phân tích bài thơ Việt Bắc. 1. Mở bài. Giới thiệu tác giả Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc. (Tố Hữu là một nhà thơ lớn có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông la bài thơ Việt Bắc.) Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Phân tích bài thơ việt bắc khổ 5 của nhà thơ Tố Hữu cực hay phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay tại . Chủ Nhật, Tháng Mười 16 2022 . Breaking News. Hãy cũng phân tích nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu. Mở bài mẫu 19 Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ham thích sP1I. Tình quân dân trong những năm tháng kháng chiến đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc cho các nhà văn, nhà thơ Việt Nam sáng tác. Tiêu biểu có tác phẩm Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Cả tác phẩm là một bài ca đầy xúc cảm về tình quân dân trong những năm gian khó. Đặc biệt phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 các bạn sẽ hiểu thêm về mối thân tình sâu nặng cũng như bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của vùng Việt Bắc. Chi tiết phần mở bài phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 Trước khi đi vào phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, các bạn cần giới thiệu qua về tác giả Tố thơ Tố Hữu có tên thật là Nguyễn Kim Thành. Ông sinh năm 1920 và mất năm 2002. Ông là người con của xứ Huế. Quê ông ở làng Phù Lai nay là xã Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông sinh ra và lớn lên trong nhà nho nghèo có truyền thống thơ ca, văn chương. Do vậy, ngay từ thủa nhỏ, nhà thơ Tố Hữu đã sớm được làm quen và tiếp cận với nền văn học nền văn học Việt Nam, ông được biết đến là một nhà thơ tiêu biểu đồng thời cũng là một nhà chính trị gia có tầm ảnh hưởng lớn. Ông đã từng tham gia vào các công tác ở hệ thống chính trị và từng giữ các chức vụ quan trọng như như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nhiên, với độc giả Việt Nam, Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Mỗi tác phẩm của nhà thơ là một câu chuyện đong đầy cảm xúc và gắn bó với những giai đoạn Cách mạng của đất nước. Chính vì sinh ra và lớn lên trong hoành cảnh dân tộc khó khăn, nhiều gian lao nên nhà thơ Tố Hữu sớm có ý thức trách nhiệm của một người con biết hy sinh vì sự nghiệp phát triển của đất nước. Ông cũng đã từng vào sinh ra tử cùng đồng đội trên khắp các mặt trận, cũng từng nếm trải cuộc sống lao tù đau khổ, nhưng nhà thơ Tố Hữu vẫn luôn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước nồng nàn. Chính vì vậy những tác phẩm cũng luôn mang tới cho độc giả những cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước cháy những tác phẩm tiêu biểu của Tố Hữu, Việt Bắc là bài thơ chiếm được nhiều tình cảm hơn cả. Bài thơ gồm 18 khổ thơ. Mỗi khổ thơ đều chan chứa ân tình quân dân Việt Bắc và các chiến sĩ Cách mạng. Trong đó, khổ 7 để lại nhiều xúc cảm về tình cảm con người chân thành và bức tranh thiên nhiên Việt Bắc sâu sắc hơn cả.“Ta về, mình có nhớ taTa về, ta nhớ những hoa cùng xanh hoa chuối đỏ tươiĐèo cao nắng ánh dao gài thắt xuân mơ nở trắng rừngNhớ người đan nón chuốt từng sợi kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mìnhRừng thu trăng rọi hoà bìnhNhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Phần chi tiết thân bài Luận điểm 1 phân tích hai câu đầu. Đây là hai câu thơ thể hiện nỗi nhớ da diết của người ở và người đi.“Ta về, mình có nhớ taTa về, ta nhớ những hoa cùng núi rừng Việt Bắc, thì hoa và người là những gì đẹp nhất nơi đây. Có thể thế thấy, nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng cách nói nghệ thuật tượng trưng “hoa” để đại diện cho cả thiên nhiên tươi đẹp của vùng núi Tây Bắc. Nhắc đến hoa là chúng ta có thể cảm nhận được sức sống tươi mới cùng những màu sắc rực rỡ đầy sức sống của đất trời. Đọc hai câu thơ, chúng ta có thể thấy rõ, với những người về xuôi, trong nỗi nhớ của họ, hoa và người nơi đây là những hình ảnh cùng xuất hiện, cùng nhau soi chiếu không tách rời. Nếu như hoa là tổng hòa vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên thì còn người là sản phẩm tuyệt diệu của tạo hóa. Bởi thế, khi người về thấy nhớ những hoa cùng người, thì không chỉ nói về nỗi nhớ đơn thuần mà còn thể hiện ý ca ngợi vẻ đẹp cả tâm hồn lẫn dáng vẻ của người ở lại. Luận điểm 2 phân tích tám câu thơ tiếp theo Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, độc giả không chỉ cảm nhận rõ nỗi nhớ niềm thương của người ở và người về mà còn thấy hiện lên một bức tranh thiên nhiên bốn mùa của chiến khu Việt Bắc vô cùng đẹp đẽ, rực rỡ, căng tràn sức tiên là vẻ đẹp bức tranh mùa đông của Việt Bắc với “ Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi/ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Đọc hai câu thơ lên, chúng ta có thể mới đầu, bức tranh xuất hiện với một gam màu lạnh. Đó là màu xanh tĩnh mịch, mênh mông của những cánh rừng gia. Khơi gợi cảm giác một xứ sở bình yên, xa vắng nhưng êm đềm. Tuy nhiên, đúng lúc đó lại xuất hiện một gam màu nóng đó chính là màu đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ đó làm nổi bật lên sức sống, của toàn bộ cảnh rừng xa vắng đó. Thông qua nét chấm phá này, nhà thơ Tố Hữu muốn gửi gắm thông điệp về màu đỏ của cách mạng. Dường như màu đỏ là màu chiến thắng của Cách mạng đã nhen nhóm, và xua đi cái lạnh thâm sâu của núi rừng trong mùa đông lạnh đến là hai câu thơ nói vẽ nên bức tranh mùa xuân tươi đẹp với “ Ngày xuân mơ nở trắng rừng/ Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. ” Chỉ với hình ảnh mơ nở trắng rừng, nhưng nhà thơ Tố Hữu đã mở ra cho độc giả một không gian núi rừng Tây Bắc vào mùa xuân thật đầy sức sống. Hoa mơ là loài hoa đặc trưng của núi rừng nơi đây. Với màu trắng tinh khôi, dịu dàng và mơ mộng của hoa mơ là làm sáng bừng cả bức tranh, cả khu rừng. Có thể nói, đây cũng là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng. Khơi gợi lên vẻ đẹp trong sáng, vô tư hồn hậu trong tâm hồn của con người vùng núi Tây qua mùa xuân, chúng ta tiếp tục ngắm bức tranh tươi đẹp của mùa hè. Bức tranh thiên nhiên mùa hè của Việt Bắc hiện lên trong tâm thức, nỗi nhớ của người đi không chỉ là ánh sáng, đường nét hay ánh sáng, mà còn có cả âm thanh vang vọng của tiếng ve gọi hè “ Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Ở Việt Bắc, con người cảm nhận rất rõ khi hè về, bởi khi đó, rừng phách cũng chuyển màu. Nếu khi mùa xuân vẫn còn, nụ hoa vẫn còn náu kín trong những kẽ lá nhưng chỉ khi tiếng ve vừa cất lên, thì các hoa đã nhất loạt trổ vàng. Ở đây, tác giả sử dụng từ “đổ” khá tinh tế và độc đáo. Nó diễn tả sự đột ngột và mau lẹ trong quá trình thay đổi của núi rừng chỉ sau khi gió thổi, ve kêu giống như một trận mưa hoa vàng cùng, bức tranh bốn mùa của thiên nhiên Việt Bắc được kết thúc bằng hình ảnh đêm thu có ánh trăng rọi qua vòm lá. “ Rừng thu trăng rọi hoà bình”. Một hình ảnh thật thanh bình và huyền ảo. Đó là khung cảnh khơi gợi sự lãng mạn, phù hợp để bộ lộ những tâm tư tình cảm như những khúc ca giao duyên ân tình. Câu thơ báo hiệu một cuộc sống yên vui, hòa bình. Qua đó, tác giả cũng bộc lộ cảm nhận về sự hòa hợp thanh bình giữa thiên nhiên, vũ trụ với những tình cảm chân thành giữa người ở và người đi. Luận điểm 3 phân tích hình ảnh con người Việt Bắc trong khổ 7 Khi phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, các bạn không thể không phân tích hình ảnh nỗi nhớ người ở của người về. Có thể thấy, trong mỗi bức tranh thiên nhiên của vùng núi Việt Bắc, tác giả luôn có kèm theo và đan xen hài hòa hình ảnh của con người. Có thể thấy, con người gắn bó rất khăng khít với thiên nhiên, khiến cho núi rừng giảm bớt đi sự hoang sơ, xa vắng. Giữa thiên nhiên tươi đẹp ấy, cong người được khắc hoạt thật dễ thương, bình dị, hồn hậu, luôn yêu lao động hăng bức tranh mùa đông, con người hiện lên với tư thế hiên ngang, vững mạnh trong lao động “dao gài thắt lưng”. Trong khi đó, ở bức tranh mùa xuân, hình ảnh con người Việt Bắc lại được miêu tả qua sự dịu dàng, cần mẫn của các cô gái dân tộc đang “chuốt từng sợi giang”. Hình ảnh cô gái đang làm được khắc họa rõ nét đậm đà như một thước phim quay chậm, giúp độc giả cảm nhận rõ rệt đường nét, hình khối, động tác tỉ mỉ của người lao đến, trong bức tranh mùa hè, con người được thể hiện của hình ảnh “Cô gái hái măng một mình”. Qua đây, độc giả có thể thấy sự chăm chỉ, cần mẫn và kiên nhẫn của con người Việt Bắc. Giữa núi rừng mênh mông ấy, con người vẫn chăm chỉ, tỉ mỉ làm về người Việt Bắc, người về xuôi không chỉ nhớ về hình ảnh chăm chỉ làm việc, vẻ đẹp của sự hăng say lao động mà còn cả “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Tiếng hát ân tình, là tiếng nói của tâm hồn, là tiếng lòng son sắc của người dân Việt Bắc dành cho các chiến sĩ Cách mạng. Chỉ có gắn bó với nhau trong những gian khổ, đau thương, con người ta mới có thể cảm nhận hết được sự chân thành của tình người. Phần kết bài chi tiết Qua quá trình phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 của nhà thơ Tố Hữu, chúng ta có thể cảm nhận rõ nỗi nhớ da diết của người về xuôi là những chiến sĩ Cách mạng dành cho người dân Việt Bắc. 15 năm ăn ở nơi đây, khiến cho thiên nhiên lẫn con người Việt Bắc đã in sâu trong tâm trí và trái tim của người các chiến sĩ. Mỗi âm thanh, mỗi hình ảnh, mỗi khoảnh khắc, mỗi dáng vẻ đều để lại cho người về những niềm thương nỗi nhớ tha thể thơ lục bát, bài thơ Việt Bắc đã đi vào lòng người như một bài ca đi cùng năm tháng, ca ngợi tình quân dân trong những năm kháng chiến gian khó. Tài liệu hướng dẫn cảm nhận vẻ đẹp bức tranh tứ bình trong khổ 7 bài thơ Việt Bắc do Đọc Tài Liệu biên soạn gồm những gợi ý chi tiết giúp em phân tích đề, lập dàn ý và tham khảo một số bài văn mẫu hay phân tích bức tranh thiên nhiên tứ bình trong bài Việt Bắc Tố Hữu.Hướng dẫn cảm nhận vẻ đẹp bức tranh tứ bình trong khổ thơ 7 bài Việt BắcĐề bài Cảm nhận vẻ đẹp bức tranh tứ bình trong đoạn thơ sau của bài "Việt Bắc" - Tố Hữu"Ta về mình có nhớ ta,...Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung".1. Phân tích đề- Yêu cầu về nội dung vẻ đẹp bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Phạm vi tư liệu, dẫn chứng các câu thơ, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong khổ thơ thứ 7 bài Việt Bắc của Tố Phương pháp lập luận chính phân tích, nêu cảm Hệ thống luận điểm- Luận điểm 1 Bức tranh thứ nhất tả cảnh mùa đông- Luận điểm 2 Bức tranh thứ hai tả cảnh mùa xuân- Luận điểm 3 Bức tranh thứ ba nói về mùa hè- Luận điểm 4 Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa Sơ đồ tư duySơ đồ tư duy vẻ đẹp bức tranh tứ bình trong khổ thơ thứ 7 bài Việt Bắc4. Lập dàn ý chi tiếta Mở bài- Việt Bắc, khúc ca trữ tình nồng nàn, đắm say về những lẽ sống lớn, ân tình lớn của con người cách Nỗi nhớ hướng về cảnh và người ở quê hương Việt Bắc là một nội dung nổi bật của bài thơ, được thể hiện hết sức xuất sắc trong đoạn thơ Thân bài- Hai dòng đầu của đoạn thơ vừa giới thiệu chủ đề của đoạn, vừa có tính chất như một sự đưa đẩy để nối các phần của bài thơ lại với nhau. Người ra đi đã nói rõTa về, ta nhớ những hoa cùng ngườiTrong nỗi nhớ của người đi, cảnh vật lẫn con người Việt Bắc hòa quyện với nhau thành một thể thống Trong tám dòng thơ tiếp theo, tác giả tạo dựng một bộ tranh tứ bình về Việt Bắc theo chủ đề Xuân - Hạ - Thu - Đông. Ngòi bút tạo hình của nhà thơ đã đạt tới trình độ cổ điển. Bút pháp miêu tả nhất quán câu lục để nói cảnh, còn câu bát dành để “vẽ” Bức thứ nhất của bộ tranh tả cảnh mùa đông. Màu hoa chuối đỏ tươi đã làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già. Sự đối chọi hai màu xanh - đỏ ở đây rất ảnh con người được nói tới sau đó chính là điểm sáng di động của bức tranh. Tác giả thật khéo gài con dao ở thắt lưng người đi trên đèo cao khiến hình ảnh đó trở nên nổi Bức tranh thứ hai tả cảnh mùa xuân bằng gam màu trắng. Xuân về, rừng hoa mơ bừng nở. Màu trắng tinh khiết của nó làm choáng ngợp lòng người. Âm điệu hai chữ “trắng rừng” diễn tả rất đạt sức xuân nơi núi rừng và cảm giác ngây ngất trong lòng người ngắm Người đan nón có dáng vẻ khoan thai rất hòa hợp với bối cảnh. Từ “chuốt” vừa mang tính chất của động từ vừa mang tính chất của tính Bức tranh thứ ba nói về mùa hè. Gam màu vàng được sử dụng đắc địa. Đó là “màu” của tiếng ve quyện hòa với màu vàng của rừng phách thay lá. Do cách diễn đạt tài tình của rừng phách, ta có cảm tưởng tiếng ve đã gọi dậy sắc vàng của rừng phách và ngược lại sắc vàng này như đã thị giác hóa tiếng ảnh “cô gái hái măng một mình” xuất hiện đã cân bằng lại nét tả đầy kích thích ở trên. Nó có khả năng khơi dậy trong ta những xúc cảm ngọt Bức tranh thứ tư vẽ cảnh mùa thu với ánh trăng dịu mát, êm đềm. Trên nền bối cảnh ấy, “tiếng hát ân tình thủy chung” ai đó cất lên nghe thật ấm lòng. Đây là tiếng hát của ngày qua hay tiếng hát của thời điểm hiện tại đang ngân nga trong lòng người sắp phải giã từ Việt Bắc?c Kết bàiĐoạn thơ có vẻ đẹp lộng lẫy đã được viết bằng một ngòi bút điêu luyện. Đọc nó, ấn tượng sâu sắc còn lại là nghĩa tình đối với “quê hương cách mạng dựng nên cộng hòa”.» Tham khảo thêm Hướng dẫn soạn bài Việt Bắc Tố Hữu Trên đây là dàn ý vẻ đẹp của bức tranh tứ bình trong khổ thơ 7 bài Việt Bắc bao gồm những ý cơ bản nhất cần triển khai trong bài phân tích. Dựa trên những ý này, hi vọng các em có thể tự xây dựng cho mình một dàn ý chi tiết hơn và triển khai thành bài viết hoàn chỉnh một cách dễ dàng. Có thể tham khảo bài văn mẫu dưới đây để mở rộng vốn từ ngữ khi trình văn mẫu tham khảo cảm nhận vẻ đẹp bức tranh tứ bình Việt Bắc"Việt Bắc" - bài thơ lục bát mang tầm vóc một trường ca dài 150 câu thơ, cảm xúc dâng lên mênh mông dào dạt. Bài thơ ra đời vào tháng 10 năm 1054, ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội. Qua bài thơ, Tố Hữu nói lên một cách thiết tha mặn nồng mối tình Việt Bắc, mối tình cách mạng và kháng thơ 10 câu dưới đây trích từ câu 43 đến câu 52 trong bài thơ "Việt Bắc" nói lên bao nỗi nhớ vô cùng thắm thiết thủy chung đối với Việt Bắc"Ta về mình có nhớ ta,...Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung".Hai câu thơ đầu là lời hỏi - đáp của "ta", của người cán bộ kháng chiến về xuôi, ta hỏi mình "có nhớ ta". Dù về xuôi, dù xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó thiết tha với Việt Bắc "Ta về, ta nhớ những hoa cùng người". Chữ "ta", chữ "nhớ" được điệp lại thể hiện một tấm lòng thủy chung son sắt. Nỗi nhớ ấy hướng về "những hoa cùng người", hướng về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và con người Việt Bắc thân yêu"Ta về, mình có nhớ ta,Ta về, ta nhớ những hoa cùng người".Hai chữ "mình – ta" xuất hiện ở tần số cao trong bài thơ, cũng như ở trong hai câu thơ này đã thể hiện một cách rất đẹp tình cảm lứa đôi hòa quyện trong mối tình Việt Bắc, đồng thời làm cho giọng thơ trở nên thiết tha bồi hồi như tiếng hát giao duyên thuở nào. Đó là sắc điệu trữ tình và tính dân tộc trong thơ Tố câu thơ tiếp theo, mỗi cặp lục bát nói lên một nỗi nhớ cụ thể về một cảnh sắc, một con người cụ thể trong 4 mùa đông, xuân, hè, mùa đông nhớ màu "xanh" của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu "đỏ tươi" của hoa chuối như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh. Nhớ người đi nương đi rẫy "dao gài thắt lưng" trong tư thế mạnh mẽ hào hùng đứng trên đèo cao "nắng ánh...". Con dao của người đi nương rẫy phản quang "nắng ánh" rất gợi cảm"Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươiĐèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng".Màu "xanh" của rừng, màu "đỏ tươi" của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của "nắng ánh" từ con dao; màu sắc ấy hòa hợp với nhau, làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, của con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến. Tố Hữu đã có một cái nhìn phát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng và kháng chiến mang lại. Người lao động sản xuất thì hào hùng đứng trên "đèo cao" ngập nắng và lộng gió. Đoàn dân công đi chiến dịch thì "bước chân nát đá muôn tàn lửa bay". Người chiến sĩ ra trận mang theo sức mạnh vô địch của thời đại mới"Núi không đè nổi vai vươn tớiLá ngụy trang reo với gió đèo"."Lên Tây Bắc"Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ "nở trắng rừng". Chữ "trắng" là tính từ chỉ màu sắc được chuyển từ loại thành bổ ngữ "nở trắng rừng", gợi lên một thế giới hoa mơ bao phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanh khiết mênh mông và bao la. Cách dùng từ tài hoa của Tố Hữu gợi nhớ trong lòng ta câu thơ của Nguyễn Du tả một nét xuân thơ mộng, trinh bạch trong "Truyện Kiều""Cỏ non xanh tận chân trời,Cành lê trắng điểm một vài bông hoa".Nhớ "mơ nở trắng rừng", nhớ người thợ thủ công đan nón "chuốt rừng sợi giang". "Chuốt" nghĩa là làm bóng lên những sợi giang mỏng mảnh. Có khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ mới có thể "chuốt từng sợi giang" để đan thành những chiếc nón, chiếc mũ phục vụ kháng chiến, để anh bộ đội đi chiến dịch có "ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan". Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa, tính sáng tạo của đồng bào Việt Bắc. Mùa xuân Việt Bắc thật đáng nhớ"Ngày xuân mơ nở trắng rừng,Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang".Nhớ về Việt Bắc là nhớ mùa hè với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, là nhớ màu vàng của rừng phách, là nhớ cô thiếu nữ đi "hái măng một mình" giữa rừng vầu, rừng nứa, rừng trúc"Ve kêu rừng phách đổ vàng,Nhớ cô em gái hái măng một mình".Một chữ "đổ" tài tình. Tiếng ve kêu như trút xuống "đổ" xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng. Xuân Diệu cũng có câu thơ sử dụng chữ "đổ" chuyển cảm giác tương tự "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá..." Thơ duyên – 1938. Câu thơ "Nhớ cô em gái hái măng một mình" là câu thơ đặc sắc, giàu vần điệu, thanh điệu. Có vần lưng "gái" vần với "hái". Có điệp âm qua các phụ âm "m" "măng – một – mình". Đây là những vần thơ nên họa nên nhạc, tạo nên một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc âm thanh. "Cô em gái hái măng một mình" vẫn không cảm thấy lẻ loi, vì cô đang lao động giữa nhạc rừng, hái măng để góp phần "nuôi quân" phục vụ kháng chiến. Cô gái hái măng là một nét trẻ trung, yêu đời trong thơ Tố mùa hè rồi nhớ mùa thu Việt Bắc, nhớ khôn nguôi, nhớ trăng ngàn, nhớ tiếng hát"Rừng thu trăng rọi hòa bình,Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung".Trăng xưa "vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân". Trăng Việt Bắc trong thơ Bác Hồ là "trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa". Người cán bộ kháng chiến về xuôi nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng "rọi" qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi màu "hòa bình" nên thơ. "Ai" là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, "nhớ ai" là nhớ về tất cả, về mọi người dân Việt Bắc giàu tình nghĩa thủy chung, đã hi sinh quên mình cho cách mạng và kháng thơ trên đây dào dạt tình thương mến. Nỗi thiết tha bồi hồi như thấm sâu vào cảnh vật và lòng người, kẻ ở người về, mình nhớ ta, ta nhớ mình. Tình cảm ấy vô cùng sâu nặng biết bao ân tình thủy chung. Năm tháng sẽ qua đi, những tiếng hát ân tình thủy chung ấy mãi mãi như một dấu son đỏ thắm in đậm trong lòng thơ mang vẻ đẹp một bức tranh tứ bình đặc sắc, đậm đà phong cách dân tộc. Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là mùa đông năm 1946, đến mùa thu tháng 10 – 1954, thủ đô Hà Nội được giải phóng - Tố Hữu cũng thể hiện nỗi nhớ Việt Bắc qua bốn mùa đông – xuân – hè – thu, theo dòng chảy lịch sử. Mỗi mùa có một nét đẹp riêng dạt dào sức sống màu xanh của rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ, màu vàng của rừng phách, màu trăng xanh hòa bình. Thiên nhiên Việt Bắc trong thơ Tố Hữu rất hữu tình, mang vẻ đẹp cổ điển. Con người được nói đến không phải là ngư, tiều, canh, mục mà là người đi nương đi rẫy, là người đan nón, là cô em gái hái măng, là những ai đang hát ân tình thủy chung. Tất cả đều thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của đồng bào Việt Bắc cần cù, làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong lao động, kiên nhẫn, khéo léo, tài hoa, trẻ trung lạc quan yêu đời, ân tình thủy chung với cách mạng và kháng giọng thơ ngọt ngào, tha thiết bồi hồi cứ quyện lấy tâm hồn người đọc. Nỗi nhớ được nói đến trong "Việt Bắc" cũng như trong đoạn thơ này cho thấy một nét đẹp trong phong cách thơ Tố Hữu chất trữ tình công dân và tính dân tộc, màu sắc cổ điển và tính thời đại được kết hợp một cách hài tượng đẹp, phong phú, gợi cảm. Một không gian nghệ thuật đầy sức sống, với những đường nét, âm thanh, màu sắc, ánh sáng, cấu trúc cân xứng hài hòa, để lại trong tâm hồn ta một ấn tượng sâu sắc như Bác Hồ đã viết "Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay...".Thơ đích thực "là ảnh, là nhân ảnh..., từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la" Nguyễn Tuân. Đoạn thơ trên đây gợi lên trong lòng ta tình mến yêu Việt Bắc, tự hào về đất nước và con người Việt Nam. Đoạn thơ "nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp", để ta thương, ta nhớ về mối tình Việt Bắc, mối tình kháng thêmBình giảng đoạn thơ thứ 3 bài Việt BắcVậy là Đọc Tài Liệu đã vừa hướng dẫn các em các bước làm bài văn phân tích, cảm nhận vẻ đẹp bức tranh tứ bình trong khổ thơ thứ 7 bài Việt Bắc. Ngoài ra các em cũng có thể tham khảo thêm những bài văn mẫu 12 khác được tổng hợp thường xuyên tại để tự rèn luyện kĩ năng làm văn, mở rộng vốn từ ngữ. Các bạn học sinh lớp 12 đang tìm kiếm tài liệu mẫu phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 đầy đủ và chi tiết nhất? Các bạn muốn sử dụng tài liệu ấy để tham khảo cho bài làm văn của mình thêm phong phú và sâu sắc? Dưới đây là bài văn mẫu mà các bạn đang cần. Hãy theo dõi và sử dụng đúng cách để bài văn của các bạn đạt điểm cao nhé!Chi tiết phần mở bài phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7Phần chi tiết thân bài Luận điểm 1 phân tích hai câu đầu. Luận điểm 2 phân tích tám câu thơ tiếp theoLuận điểm 3 phân tích hình ảnh con người Việt Bắc trong khổ 7 Phần kết bài chi tiếtTình quân dân trong những năm tháng kháng chiến đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc cho các nhà văn, nhà thơ Việt Nam sáng tác. Tiêu biểu có tác phẩm Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Cả tác phẩm là một bài ca đầy xúc cảm về tình quân dân trong những năm gian khó. Đặc biệt phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 các bạn sẽ hiểu thêm về mối thân tình sâu nặng cũng như bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của vùng Việt Bắc. Chi tiết phần mở bài phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 Trước khi đi vào phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, các bạn cần giới thiệu qua về tác giả Tố Hữu. Nhà thơ Tố Hữu có tên thật là Nguyễn Kim Thành. Ông sinh năm 1920 và mất năm 2002. Ông là người con của xứ Huế. Quê ông ở làng Phù Lai nay là xã Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông sinh ra và lớn lên trong nhà nho nghèo có truyền thống thơ ca, văn chương. Do vậy, ngay từ thủa nhỏ, nhà thơ Tố Hữu đã sớm được làm quen và tiếp cận với nền văn học sớm. Trong nền văn học Việt Nam, ông được biết đến là một nhà thơ tiêu biểu đồng thời cũng là một nhà chính trị gia có tầm ảnh hưởng lớn. Ông đã từng tham gia vào các công tác ở hệ thống chính trị và từng giữ các chức vụ quan trọng như như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, với độc giả Việt Nam, Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Mỗi tác phẩm của nhà thơ là một câu chuyện đong đầy cảm xúc và gắn bó với những giai đoạn Cách mạng của đất nước. Chính vì sinh ra và lớn lên trong hoành cảnh dân tộc khó khăn, nhiều gian lao nên nhà thơ Tố Hữu sớm có ý thức trách nhiệm của một người con biết hy sinh vì sự nghiệp phát triển của đất nước. Ông cũng đã từng vào sinh ra tử cùng đồng đội trên khắp các mặt trận, cũng từng nếm trải cuộc sống lao tù đau khổ, nhưng nhà thơ Tố Hữu vẫn luôn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước nồng nàn. Chính vì vậy những tác phẩm cũng luôn mang tới cho độc giả những cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước cháy bỏng. Trong những tác phẩm tiêu biểu của Tố Hữu, Việt Bắc là bài thơ chiếm được nhiều tình cảm hơn cả. Bài thơ gồm 18 khổ thơ. Mỗi khổ thơ đều chan chứa ân tình quân dân Việt Bắc và các chiến sĩ Cách mạng. Trong đó, khổ 7 để lại nhiều xúc cảm về tình cảm con người chân thành và bức tranh thiên nhiên Việt Bắc sâu sắc hơn cả. “Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Phần chi tiết thân bài Luận điểm 1 phân tích hai câu đầu. Đây là hai câu thơ thể hiện nỗi nhớ da diết của người ở và người đi. “Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Nơi núi rừng Việt Bắc, thì hoa và người là những gì đẹp nhất nơi đây. Có thể thế thấy, nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng cách nói nghệ thuật tượng trưng “hoa” để đại diện cho cả thiên nhiên tươi đẹp của vùng núi Tây Bắc. Nhắc đến hoa là chúng ta có thể cảm nhận được sức sống tươi mới cùng những màu sắc rực rỡ đầy sức sống của đất trời. Đọc hai câu thơ, chúng ta có thể thấy rõ, với những người về xuôi, trong nỗi nhớ của họ, hoa và người nơi đây là những hình ảnh cùng xuất hiện, cùng nhau soi chiếu không tách rời. Nếu như hoa là tổng hòa vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên thì còn người là sản phẩm tuyệt diệu của tạo hóa. Bởi thế, khi người về thấy nhớ những hoa cùng người, thì không chỉ nói về nỗi nhớ đơn thuần mà còn thể hiện ý ca ngợi vẻ đẹp cả tâm hồn lẫn dáng vẻ của người ở lại. Luận điểm 2 phân tích tám câu thơ tiếp theo Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, độc giả không chỉ cảm nhận rõ nỗi nhớ niềm thương của người ở và người về mà còn thấy hiện lên một bức tranh thiên nhiên bốn mùa của chiến khu Việt Bắc vô cùng đẹp đẽ, rực rỡ, căng tràn sức sống. Đầu tiên là vẻ đẹp bức tranh mùa đông của Việt Bắc với “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi/ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Đọc hai câu thơ lên, chúng ta có thể mới đầu, bức tranh xuất hiện với một gam màu lạnh. Đó là màu xanh tĩnh mịch, mênh mông của những cánh rừng gia. Khơi gợi cảm giác một xứ sở bình yên, xa vắng nhưng êm đềm. Tuy nhiên, đúng lúc đó lại xuất hiện một gam màu nóng đó chính là màu đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ đó làm nổi bật lên sức sống, của toàn bộ cảnh rừng xa vắng đó. Thông qua nét chấm phá này, nhà thơ Tố Hữu muốn gửi gắm thông điệp về màu đỏ của cách mạng. Dường như màu đỏ là màu chiến thắng của Cách mạng đã nhen nhóm, và xua đi cái lạnh thâm sâu của núi rừng trong mùa đông lạnh lẽo. Tiếp đến là hai câu thơ nói vẽ nên bức tranh mùa xuân tươi đẹp với “Ngày xuân mơ nở trắng rừng/ Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.” Chỉ với hình ảnh mơ nở trắng rừng, nhưng nhà thơ Tố Hữu đã mở ra cho độc giả một không gian núi rừng Tây Bắc vào mùa xuân thật đầy sức sống. Hoa mơ là loài hoa đặc trưng của núi rừng nơi đây. Với màu trắng tinh khôi, dịu dàng và mơ mộng của hoa mơ là làm sáng bừng cả bức tranh, cả khu rừng. Có thể nói, đây cũng là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng. Khơi gợi lên vẻ đẹp trong sáng, vô tư hồn hậu trong tâm hồn của con người vùng núi Tây Bắc. Đi qua mùa xuân, chúng ta tiếp tục ngắm bức tranh tươi đẹp của mùa hè. Bức tranh thiên nhiên mùa hè của Việt Bắc hiện lên trong tâm thức, nỗi nhớ của người đi không chỉ là ánh sáng, đường nét hay ánh sáng, mà còn có cả âm thanh vang vọng của tiếng ve gọi hè “Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Ở Việt Bắc, con người cảm nhận rất rõ khi hè về, bởi khi đó, rừng phách cũng chuyển màu. Nếu khi mùa xuân vẫn còn, nụ hoa vẫn còn náu kín trong những kẽ lá nhưng chỉ khi tiếng ve vừa cất lên, thì các hoa đã nhất loạt trổ vàng. Ở đây, tác giả sử dụng từ “đổ” khá tinh tế và độc đáo. Nó diễn tả sự đột ngột và mau lẹ trong quá trình thay đổi của núi rừng chỉ sau khi gió thổi, ve kêu giống như một trận mưa hoa vàng vậy. Cuối cùng, bức tranh bốn mùa của thiên nhiên Việt Bắc được kết thúc bằng hình ảnh đêm thu có ánh trăng rọi qua vòm lá. “Rừng thu trăng rọi hoà bình”. Một hình ảnh thật thanh bình và huyền ảo. Đó là khung cảnh khơi gợi sự lãng mạn, phù hợp để bộ lộ những tâm tư tình cảm như những khúc ca giao duyên ân tình. Câu thơ báo hiệu một cuộc sống yên vui, hòa bình. Qua đó, tác giả cũng bộc lộ cảm nhận về sự hòa hợp thanh bình giữa thiên nhiên, vũ trụ với những tình cảm chân thành giữa người ở và người đi. Luận điểm 3 phân tích hình ảnh con người Việt Bắc trong khổ 7 Khi phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, các bạn không thể không phân tích hình ảnh nỗi nhớ người ở của người về. Có thể thấy, trong mỗi bức tranh thiên nhiên của vùng núi Việt Bắc, tác giả luôn có kèm theo và đan xen hài hòa hình ảnh của con người. Có thể thấy, con người gắn bó rất khăng khít với thiên nhiên, khiến cho núi rừng giảm bớt đi sự hoang sơ, xa vắng. Giữa thiên nhiên tươi đẹp ấy, cong người được khắc hoạt thật dễ thương, bình dị, hồn hậu, luôn yêu lao động hăng say. Trong bức tranh mùa đông, con người hiện lên với tư thế hiên ngang, vững mạnh trong lao động “dao gài thắt lưng”. Trong khi đó, ở bức tranh mùa xuân, hình ảnh con người Việt Bắc lại được miêu tả qua sự dịu dàng, cần mẫn của các cô gái dân tộc đang “chuốt từng sợi giang”. Hình ảnh cô gái đang làm được khắc họa rõ nét đậm đà như một thước phim quay chậm, giúp độc giả cảm nhận rõ rệt đường nét, hình khối, động tác tỉ mỉ của người lao động. Tiếp đến, trong bức tranh mùa hè, con người được thể hiện của hình ảnh “Cô gái hái măng một mình”. Qua đây, độc giả có thể thấy sự chăm chỉ, cần mẫn và kiên nhẫn của con người Việt Bắc. Giữa núi rừng mênh mông ấy, con người vẫn chăm chỉ, tỉ mỉ làm việc. Nhớ về người Việt Bắc, người về xuôi không chỉ nhớ về hình ảnh chăm chỉ làm việc, vẻ đẹp của sự hăng say lao động mà còn cả “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Tiếng hát ân tình, là tiếng nói của tâm hồn, là tiếng lòng son sắc của người dân Việt Bắc dành cho các chiến sĩ Cách mạng. Chỉ có gắn bó với nhau trong những gian khổ, đau thương, con người ta mới có thể cảm nhận hết được sự chân thành của tình người. Phần kết bài chi tiết Qua quá trình phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 của nhà thơ Tố Hữu, chúng ta có thể cảm nhận rõ nỗi nhớ da diết của người về xuôi là những chiến sĩ Cách mạng dành cho người dân Việt Bắc. 15 năm ăn ở nơi đây, khiến cho thiên nhiên lẫn con người Việt Bắc đã in sâu trong tâm trí và trái tim của người các chiến sĩ. Mỗi âm thanh, mỗi hình ảnh, mỗi khoảnh khắc, mỗi dáng vẻ đều để lại cho người về những niềm thương nỗi nhớ tha thiết. Với thể thơ lục bát, bài thơ Việt Bắc đã đi vào lòng người như một bài ca đi cùng năm tháng, ca ngợi tình quân dân trong những năm kháng chiến gian khó. Trong dòng chảy của văn học Việt Nam từ cổ chí kim, nền thơ ca cách mạng đã chiếm một vị trí đặc biệt và gây dấu ấn mạnh mẽ đối với bao thế hệ bạn đang xem Phân tích bài thơ việt bắc khổ 7 Và bài thơ Việt Bắc nói chung, đoạn thơ thứ 7 - khúc tiến quân ca hào hùng - nói riêng, đã trở thành trang thơ bất hủ của nền văn học cách mạng dân tộc. Trên bầu trời văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975, quả thật là một thiếu sót rất lớn nếu chúng ta không nhắc tới "lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam" - Tố Hữu. Việt Bắc là một trong số những bài thơ tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu nói riêng, trong nền thơ ca cách mạng nói chung. Bài thơ không những là lời tâm tình nhắn nhủ của người ở, kẻ đi, không chỉ là khúc tình ca thiết tha sâu lắng mà còn là khúc tráng ca cháy rực lên những kí ức và kỉ niệm của những đêm quân dân núi rừng cùng sát cánh chiến đấu. Cũng chính khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn hoà quyện vào nhau đã làm nên một chất thơ trữ tình chính trị vô cùng độc đáo của phong cách thơ Tố Hữu. Đoạn thơ thứ 7 trích từ bài thơ Việt Bắc như một minh chứng tiêu biểu cho một khía cạnh của nét đặc trưng ấy - tính sử thi. Dưới đây là một số bài văn mẫu phân tích cảm nhận đoạn thơ trên để các bạn có thể tham khảo. Chúc các bạn học tập thật tốt! BÀI VĂN MẪU SỐ 1 PHÂN TÍCH CẢM NHẬN ĐOẠN 7 VIỆT BẮC NGẮN GỌN HAY NHẤTNhận định về thơ Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi đã từng nói "Trọn đời Tố Hữu là một chiến sĩ cách mạng lần thơ và là nhà thơ của cách mạng". Nếu âm hưởng bao trùm những khúc tình ca của người ở lại và người ra đi là ngọt ngào, thiết tha, sâu lắng như ru vỗ hồn người vào nhịp thở đều đặn của những kỷ niệm, thì đến với khúc hùng ca kháng chiến, những vần thơ lại mang một khí thế hào hùng, mãnh liệt. Đoạn thơ thứ 7 tuy chỉ với 3 cặp thơ lục bát nhưng cũng đã để lại rất nhiều dấu ấn trong trái tim bạn đọc. "Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù ất trời ta cả chiến khu một lòng".Đoạn thơ khắc hoạ cuộc sống chiến đấu nơi Việt Bắc mang lại âm hưởng mạnh mẽ, sôi nổi, hào hùng. Hình tượng "Đất nước đứng lên", "Rũ bùn đứng dậy sáng loà" như sống dậy trong mỗi câu thơ. Một lần nữa thiên nhiên và con người kết hợp tạo thành sức mạnh phi thường chiến thắng thực dân xâm lược."Nhớ khi giặc đến giặc lùng"Làm sao mà ta có thể lãng quên cái cảnh săn lùng càn quét của thực dân Pháp như một bầy chó săn khát máu, chúng dẫm đạp lên xương máu của ông cha ta, tắm nhân dân ta trong những bể máu và tiếng thương khóc vọng ngàn đời,... những tội ác đã bị vạch trần trong biết bao tiếng thở ai oán, căm hờn"Quê hương ta từ ngày khủng khiếpGiặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tànRuộng ta khôNhà ta cháyChó ngộ một đànLưỡi dài lê sắc máuKiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang".Bên kia sông Đuống - Hoàng CầmTrước âm mưu và dã tâm của kẻ thù, Việt Bắc đánh giặc được miêu tả một cách khái quát, kỳ vĩ. Ở đó, thiên nhiên và con người hòa quyện tạo nên sức mạnh to lớn, ngăn chặn vây hãm quân thù."Rừng cây núi đá ta cùng đánh tây"Núi rừng vốn là những sự vật vô tri, vô giác, nhưng khi giặc đến càn quét, đàn áp dân ta, thì núi rừng Việt Bắc vươn mình trở thành chiến sĩ anh dũng, quả cảm sát cánh cùng những người kháng chiến, che chở bảo vệ họ. Biện pháp nhân hóa thường có trong thơ, nhất là trong ca dao được Tố Hữu vận dụng một cách nhuần nhuyễn tự nhiên và sáng tạo "Rừng che bộ đội rừng vây quân thù". Nó tạo nên một thế đứng, một thế tiến công, nhất là một thứ lưới trời đặt kẻ thù vào tử địa. Dãy núi trùng điệp dàn trải như thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm. Trong 4 câu thơ, chữ “rừng” và “núi” được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo lên thế hiểm của trường thành của lũy thép vây bọc quân thù, như vươn lên thách thức bất cứ kẻ xâm lăng nào dám tiến lại gần. Cùng với cái vươn vai của núi rừng, mạch thơ trùng điệp áp đảo"Mênh mông bốn mặt sương mùĐất trời ta cả chiến khu một lòng"Hình ảnh miêu tả "mênh mông bốn mặt" gợi lên cái không gian hùng vĩ, bao là của núi rừng Việt Bắc. Tố Hữ vận dụng khéo léo thủ pháp đối lập, cả không gian rộng lớn như thế, đất trời, thiên nhiên lại chỉ "chung một lòng". Cả núi rừng và con người như đang đập chung một nhịp đập. Tất cả đều đang hướng về chiến khu, dồn về cuộc chiến, hướng về sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc thân yêu. Câu thơ vọng vang âm hưởng hào hùng, hào sảng và đầy tự hào về sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đây không chỉ là một cuộc đấu tranh chính nghĩa hợp ý trời, vừa lòng dân mà còn là cuộc chiến mà cả dân tộc, cả quê hương một lòng, chung sức chiến đấu. Từ một đội quân chỉ có 34 người xuất phát từ gốc đa Tân Trào năm nào, dưới sự chỉ huy của đồng chia Võ Nguyên Giáp, hôm nay chúng ta đã có được một đội quân hùng mạnh liên tiếp gặt hái được những chiến công chói lọi. Chính sức mạnh ấy đã mang đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm xưa "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", khiến cho cả thế giới phải ngả mũ bái phục một dân tộc nhỏ bé mà quật cường, trong gian khó lại có một sức mạnh phi thường. Chỉ qua 6 câu thơ, Tố Hữu đã viết nên một bản hùng ca thời chiến, khẳng định sức mạnh to lớn của dân tộc ta, khẳng định truyền thống ngàn đời "đoàn kết và yêu nước nồng nàn" của biết bao người con đất Việt. Đoạn thơ nói riêng và cả Việt Bắc nói chung sẽ mãi là những áng thơ có sức sống lâu bền trong trái tim bao thế hệ bạn đọc. VIẾT SỐ 2 PHÂN TÍCH ĐOẠN 7 ĐOẠN TRÍCH “VIỆT BẮC” CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮUBàn về tình yêu Tổ quốc Tố Hữu đã từng tâm sự rằng “Tôi yêu đất nước và nhân dân tôi, tôi viết về đất nước và nhân dân tôi như viết về người đàn bà tôi yêu”. Thật vậy, thấm đượm trong mỗi trang thơ của Tố Hữu là một bản tình ca về quê hương Tổ quốc và người dân đất Việt, là những khúc hát yêu thương thấm đượm nghĩa tình. “Việt Bắc” là bài thơ thể hiện rõ nhất tình yêu bất diệt ấy của nhà thơ, tiêu biểu nhất là đoạn thơ sau “Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh TâyNúi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù ất trời ta cả chiến khu một lòng Ai về có nhớ ai không?Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng Nhớ sông Lô, nhớ Phố Ràng Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà”Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống lớn, tình cảm lớn của con người Cách mạng. Sau hiệp định Giơnevơ, tháng 10/1954, Trung ương Đảng và cán bộ rời Việt Bắc. Buổi chia tay lịch sử ấy đã trở thành niềm cảm hứng cho Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Trải dài khắp bài thơ là niềm thương nỗi nhớ về những kỷ niệm kháng chiến gian khổ nhưng nghĩa tình. Tố Hữu nhớ về khung cảnh chia tay người Việt Bắc nghĩa tình đầy luyến lưu, nhớ về thiên nhiên Việt Bắc hữu tình ấm áp, nhớ về cuộc sống sinh hoạt của con người Việt Bắc giản đơn mà thấm thía nghĩa thêm Tải Nhạc Chuông Duyên Mình Lỡ, Lời Bài Hát Duyên Mình Lỡ Nhạc Chuông Trong mạch hồi tưởng của tác giả, những kỉ niệm thời kháng chiến cứ dần dần hiện lên trong tâm trí nhà thơ trong đó có nỗi nhớ về những ngày tháng cách mạng, về con người Việt Bắc ân tình, thủy chung và cả những nỗi nhớ về những trận đánh“Nhớ khi giặc đến giặc lùng”Làm sao quên được cái cảnh càn quét, săn lùng của kẻ thù như một bầy chó săn khát máu. Đã bao lần chúng tắm nhân dân ta trong những bể máu, trong tiếng kêu khóc đau thương dậy cả đất trời. Quân giặc tìm mọi cách đàn áp, khủng bố hòng làm nhụt chí vùng lên tự giải phóng của nhân dân ta.“Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây Núi giăng thành lũy sắt giày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”Trong những ngày đầu kháng chiến gian khổ của giai đoạn cầm cự, phòng ngự, bộ đội phải dựa vào dân, dựa vào núi rừng Việt Bắc hiểm trở để đánh địch. Trước giờ khắc quyết định của lịch sử, không chỉ nhân dân mà cả núi rừng đều vùng lên, chung sức đánh Tây. Với cuộc kháng chiến đầy gian lao của quân và dân Việt Bắc, núi rừng cũng trở nên có chí, có tình người, đã trở thành những người bạn, những người đồng đội, những chiến sĩ anh hùng của toàn quân. Chỉ với bốn câu thơ, chữ “rừng” và “núi” được lặp đi lặp lại đến năm lần, nó rải kín câu thơ, rải kín đất Việt Bắc tạo nên thế hiểm của trường thành vây bọc quân thù. Nhớ về lúc kháng chiến, khi giặc đánh giặc lùng, cũng là khi quân ta đang khó khăn xoay sở tình thế, ta biết địch mạnh hơn ta rất nhiều, nhưng ta cũng có lợi thế ở trên trận địa quen thuộc. Rừng cây núi đá “ta cùng” đánh Tây, bằng phép nhân hóa, rừng bạt ngàn cây, với núi bao la đá để rồi trên dưới một lòng cùng con người đánh đuổi quân xâm lược. Đồng thời thể hiện tình cảm giữa con người kháng chiến và thiên nhiên núi rừng Việt Bắc rất tha thiết, bao la. Ở cặp lục bát thứ hai ta sẽ thấy rõ hơn công việc của thiên nhiên núi rừng Việt Bắc. Núi thì giăng thành lũy, rừng thì đảm nhận hai công việc. Như một người mẹ che chở cho con mình, rừng bao bọc cho bộ đội trước mặt kẻ thù cướp nước. Rừng trở nên kiên quyết đến dữ dằn cùng với việc vây quân thù để tiêu diệt, cái trùng trùng điệp điệp của rừng, cái khí thế hiên ngang kiêu hùng của những vách núi đã làm cho biết bao kẻ thù khiếp sợ và bất lực. Quả thật Việt Bắc đã trở thành “địa linh nhân kiệt” kể từ đó. Qua đó càng làm sáng tỏ thêm nhận định Việt Bắc là cái nôi của cách mạng dân tộc ta. Với sự đồng lòng, đồng sức, tất cả thành một khối đoàn kết vững chắc, Việt Bắc sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức “Mênh mông bốn mặt sương mù Đấy trời ta cả chiến khu một lòng” Hình ảnh “bốn mặt sương mù” thật giàu ý nghĩa, vừa là đặc trưng thiên nhiên chiến khu Việt Bắc, vừa mang ý nghĩa biểu trưng cho khó khăn thách thức của buổi đầu kháng chiến. Cụm từ “cả chiến khu một lòng” đã nhấn mạnh tình đoàn kết quân dân, sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên. Tất cả bừng lên ngọn lửa căm hờn, ngọn lửa hừng hực tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Qua câu thơ này, Tố Hữu thể hiện lòng tự hào trước sức mạnh của dân tộc ta. Khi Tổ quốc, quê hương cần, tất cả thiên nhiên và con người đều sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh. Sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc đã làm nên những chiến công vang dội, hàng loạt những địa danh vang lên, mỗi nơi đều gắn với một thắng lợi vinh quang “Ai về ai có nhớ không?Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng Nhớ sông Lô, nhớ Phố Ràng Nhớ từ Cao - Lạng, nhớ sang Nhị Hà” Câu hỏi tu từ “ai về ai có nhớ không?” vừa là cách gây sự chú ý người đọc, vừa là cái cớ cán bộ kháng chiến ôn lại chiến thắng, nhớ lại gian khổ. Đoàn kết anh dũng đứng lên, Việt Bắc giành chiến thắng vang dội làm nức lòng nhân dân cả nước. Bằng phép liệt kê các địa danh ở Việt Bắc gắn liền với những sự kiện quan trọng như Phủ Thông, đèo Giàng, là nơi đã diễn ra các trận hồi đầu cuộc kháng chiến chống pháp. Sông Lô phố Ràng Trận sông Lô đánh tàu chiếm Pháp trong chiến dịch Việt Bắc và trận đánh đồn phố Ràng. Cao - Lạng Cao Bằng và Lạng Sơn, năm 1950 ta mở chiến dịch giải phóng biên giới Việt - Trung. Đó là những chiến công tiêu biểu góp phần quan trọng, mang tính quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến. Những bước đầu quan trọng ấy đã làm thay đổi cục diện chiến trường, tạo thế và lực cho cuộc kháng chiến, củng cố niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Cùng với điệp từ “nhớ” nhớ đến những trận đánh, những chiến công oanh tạc như thế là niềm tự hào của cá nhân những người tham gia kháng chiến. Chiến thắng nào mà chẳng phải trả giá. Có lẽ họ không những nhớ đến những chiến công oanh liệt như thế mà còn nhớ về những kỉ niệm buồn bên đồng đội của mình, họ ra đi vĩnh viễn trong nước mắt và sự xót thương của cả dân tộc. Qua đó nhà thơ như cũng muốn thắp lên nén tâm hương để tưởng nhớ những người đã ngã xuống vì nghĩa lớn vì sự nghiệp của dân tộc, của đất nước. Vậy là chỉ bằng vài nét phác họa, Tố Hữu đã làm sống dậy tinh thần đoàn kết, khí thế anh dũng quật cường của Việt Bắc trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Với điệp từ “nhớ” cùng với thể thơ lục bát âm điệu nhẹ nhàng, ngọt ngào, sâu lắng, diễn tả nỗi nhớ vơi đầy dào dạt trong kí ức của nhà thơ. Giọng thơ thay đổi linh hoạt, lúc trầm lắng, lúc mạnh mẽ mãnh kiệt trong niềm vui, khiến độc giả như đang hòa mình vào niềm vui lớn của dân tộc, niềm vui trọn vẹn khi đất nước hoàn toàn tự do. Là người, ai mà chẳng có trong tim mình một miền đất để nhớ để thương. Bởi “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”. Có lẽ vì thế mà quê hương cách mạng Việt Bắc đã không ngần ngại chắp cánh cho hồn thơ Tố Hữu viết nên thi phẩm cùng tên mà ngày nay chúng ta vẫn nâng niu trên tay như một hòn ngọc Các bạn học sinh lớp 12 đang tìm kiếm tài liệu mẫu phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 đầy đủ và chi tiết nhất? Các bạn muốn sử dụng tài liệu ấy để tham khảo cho bài làm văn của mình thêm phong phú và sâu sắc? Dưới đây là bài văn mẫu mà các bạn đang cần. Hãy theo dõi và sử dụng đúng cách để bài văn của các bạn đạt điểm cao nhé! Tình quân dân trong những năm tháng kháng chiến đã trở thành nguồn cảm hứng sâu sắc cho các nhà văn, nhà thơ Việt Nam sáng tác. Tiêu biểu có tác phẩm Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Cả tác phẩm là một bài ca đầy xúc cảm về tình quân dân trong những năm gian khó. Đặc biệt phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 các bạn sẽ hiểu thêm về mối thân tình sâu nặng cũng như bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của vùng Việt đang xem Phân tích việt bắc khổ 7Chi tiết phần mở bài phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7Trước khi đi vào phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, các bạn cần giới thiệu qua về tác giả Tố thơ Tố Hữu có tên thật là Nguyễn Kim Thành. Ông sinh năm 1920 và mất năm 2002. Ông là người con của xứ Huế. Quê ông ở làng Phù Lai nay là xã Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Ông sinh ra và lớn lên trong nhà nho nghèo có truyền thống thơ ca, văn chương. Do vậy, ngay từ thủa nhỏ, nhà thơ Tố Hữu đã sớm được làm quen và tiếp cận với nền văn học nền văn học Việt Nam, ông được biết đến là một nhà thơ tiêu biểu đồng thời cũng là một nhà chính trị gia có tầm ảnh hưởng lớn. Ông đã từng tham gia vào các công tác ở hệ thống chính trị và từng giữ các chức vụ quan trọng như như Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch thứ Nhất Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nhiên, với độc giả Việt Nam, Tố Hữu là một nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam. Mỗi tác phẩm của nhà thơ là một câu chuyện đong đầy cảm xúc và gắn bó với những giai đoạn Cách mạng của đất nước. Chính vì sinh ra và lớn lên trong hoành cảnh dân tộc khó khăn, nhiều gian lao nên nhà thơ Tố Hữu sớm có ý thức trách nhiệm của một người con biết hy sinh vì sự nghiệp phát triển của đất nước. Ông cũng đã từng vào sinh ra tử cùng đồng đội trên khắp các mặt trận, cũng từng nếm trải cuộc sống lao tù đau khổ, nhưng nhà thơ Tố Hữu vẫn luôn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước nồng nàn. Chính vì vậy những tác phẩm cũng luôn mang tới cho độc giả những cảm xúc về tình yêu quê hương đất nước cháy những tác phẩm tiêu biểu của Tố Hữu, Việt Bắc là bài thơ chiếm được nhiều tình cảm hơn cả. Bài thơ gồm 18 khổ thơ. Mỗi khổ thơ đều chan chứa ân tình quân dân Việt Bắc và các chiến sĩ Cách mạng. Trong đó, khổ 7 để lại nhiều xúc cảm về tình cảm con người chân thành và bức tranh thiên nhiên Việt Bắc sâu sắc hơn cả.“Ta về, mình có nhớ taTa về, ta nhớ những hoa cùng xanh hoa chuối đỏ tươiĐèo cao nắng ánh dao gài thắt xuân mơ nở trắng rừngNhớ người đan nón chuốt từng sợi kêu rừng phách đổ vàngNhớ cô em gái hái măng một mìnhRừng thu trăng rọi hoà bìnhNhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.Phần chi tiết thân bài Luận điểm 1 phân tích hai câu đầu. Đây là hai câu thơ thể hiện nỗi nhớ da diết của người ở và người đi.“Ta về, mình có nhớ taTa về, ta nhớ những hoa cùng núi rừng Việt Bắc, thì hoa và người là những gì đẹp nhất nơi đây. Có thể thế thấy, nhà thơ Tố Hữu đã sử dụng cách nói nghệ thuật tượng trưng “hoa” để đại diện cho cả thiên nhiên tươi đẹp của vùng núi Tây Bắc. Nhắc đến hoa là chúng ta có thể cảm nhận được sức sống tươi mới cùng những màu sắc rực rỡ đầy sức sống của đất trời. Đọc hai câu thơ, chúng ta có thể thấy rõ, với những người về xuôi, trong nỗi nhớ của họ, hoa và người nơi đây là những hình ảnh cùng xuất hiện, cùng nhau soi chiếu không tách rời. Nếu như hoa là tổng hòa vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên thì còn người là sản phẩm tuyệt diệu của tạo hóa. Bởi thế, khi người về thấy nhớ những hoa cùng người, thì không chỉ nói về nỗi nhớ đơn thuần mà còn thể hiện ý ca ngợi vẻ đẹp cả tâm hồn lẫn dáng vẻ của người ở điểm 2 phân tích tám câu thơ tiếp theoPhân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, độc giả không chỉ cảm nhận rõ nỗi nhớ niềm thương của người ở và người về mà còn thấy hiện lên một bức tranh thiên nhiên bốn mùa của chiến khu Việt Bắc vô cùng đẹp đẽ, rực rỡ, căng tràn sức tiên là vẻ đẹp bức tranh mùa đông của Việt Bắc với “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi/ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Đọc hai câu thơ lên, chúng ta có thể mới đầu, bức tranh xuất hiện với một gam màu lạnh. Đó là màu xanh tĩnh mịch, mênh mông của những cánh rừng gia. Khơi gợi cảm giác một xứ sở bình yên, xa vắng nhưng êm đềm. Tuy nhiên, đúng lúc đó lại xuất hiện một gam màu nóng đó chính là màu đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ đó làm nổi bật lên sức sống, của toàn bộ cảnh rừng xa vắng đó. Thông qua nét chấm phá này, nhà thơ Tố Hữu muốn gửi gắm thông điệp về màu đỏ của cách mạng. Dường như màu đỏ là màu chiến thắng của Cách mạng đã nhen nhóm, và xua đi cái lạnh thâm sâu của núi rừng trong mùa đông lạnh đến là hai câu thơ nói vẽ nên bức tranh mùa xuân tươi đẹp với “Ngày xuân mơ nở trắng rừng/ Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.” Chỉ với hình ảnh mơ nở trắng rừng, nhưng nhà thơ Tố Hữu đã mở ra cho độc giả một không gian núi rừng Tây Bắc vào mùa xuân thật đầy sức sống. Hoa mơ là loài hoa đặc trưng của núi rừng nơi đây. Với màu trắng tinh khôi, dịu dàng và mơ mộng của hoa mơ là làm sáng bừng cả bức tranh, cả khu rừng. Có thể nói, đây cũng là hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng. Khơi gợi lên vẻ đẹp trong sáng, vô tư hồn hậu trong tâm hồn của con người vùng núi Tây qua mùa xuân, chúng ta tiếp tục ngắm bức tranh tươi đẹp của mùa hè. Bức tranh thiên nhiên mùa hè của Việt Bắc hiện lên trong tâm thức, nỗi nhớ của người đi không chỉ là ánh sáng, đường nét hay ánh sáng, mà còn có cả âm thanh vang vọng của tiếng ve gọi hè “Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình”. Ở Việt Bắc, con người cảm nhận rất rõ khi hè về, bởi khi đó, rừng phách cũng chuyển màu. Nếu khi mùa xuân vẫn còn, nụ hoa vẫn còn náu kín trong những kẽ lá nhưng chỉ khi tiếng ve vừa cất lên, thì các hoa đã nhất loạt trổ vàng. Ở đây, tác giả sử dụng từ “đổ” khá tinh tế và độc đáo. Nó diễn tả sự đột ngột và mau lẹ trong quá trình thay đổi của núi rừng chỉ sau khi gió thổi, ve kêu giống như một trận mưa hoa vàng cùng, bức tranh bốn mùa của thiên nhiên Việt Bắc được kết thúc bằng hình ảnh đêm thu có ánh trăng rọi qua vòm lá. “Rừng thu trăng rọi hoà bình”. Một hình ảnh thật thanh bình và huyền ảo. Đó là khung cảnh khơi gợi sự lãng mạn, phù hợp để bộ lộ những tâm tư tình cảm như những khúc ca giao duyên ân tình. Câu thơ báo hiệu một cuộc sống yên vui, hòa bình. Qua đó, tác giả cũng bộc lộ cảm nhận về sự hòa hợp thanh bình giữa thiên nhiên, vũ trụ với những tình cảm chân thành giữa người ở và người điểm 3 phân tích hình ảnh con người Việt Bắc trong khổ 7 Khi phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7, các bạn không thể không phân tích hình ảnh nỗi nhớ người ở của người về. Có thể thấy, trong mỗi bức tranh thiên nhiên của vùng núi Việt Bắc, tác giả luôn có kèm theo và đan xen hài hòa hình ảnh của con người. Có thể thấy, con người gắn bó rất khăng khít với thiên nhiên, khiến cho núi rừng giảm bớt đi sự hoang sơ, xa vắng. Giữa thiên nhiên tươi đẹp ấy, cong người được khắc hoạt thật dễ thương, bình dị, hồn hậu, luôn yêu lao động hăng bức tranh mùa đông, con người hiện lên với tư thế hiên ngang, vững mạnh trong lao động “dao gài thắt lưng”. Trong khi đó, ở bức tranh mùa xuân, hình ảnh con người Việt Bắc lại được miêu tả qua sự dịu dàng, cần mẫn của các cô gái dân tộc đang “chuốt từng sợi giang”. Hình ảnh cô gái đang làm được khắc họa rõ nét đậm đà như một thước phim quay chậm, giúp độc giả cảm nhận rõ rệt đường nét, hình khối, động tác tỉ mỉ của người lao đến, trong bức tranh mùa hè, con người được thể hiện của hình ảnh “Cô gái hái măng một mình”. Qua đây, độc giả có thể thấy sự chăm chỉ, cần mẫn và kiên nhẫn của con người Việt Bắc. Giữa núi rừng mênh mông ấy, con người vẫn chăm chỉ, tỉ mỉ làm về người Việt Bắc, người về xuôi không chỉ nhớ về hình ảnh chăm chỉ làm việc, vẻ đẹp của sự hăng say lao động mà còn cả “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Tiếng hát ân tình, là tiếng nói của tâm hồn, là tiếng lòng son sắc của người dân Việt Bắc dành cho các chiến sĩ Cách mạng. Chỉ có gắn bó với nhau trong những gian khổ, đau thương, con người ta mới có thể cảm nhận hết được sự chân thành của tình kết bài chi tiếtQua quá trình phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 7 của nhà thơ Tố Hữu, chúng ta có thể cảm nhận rõ nỗi nhớ da diết của người về xuôi là những chiến sĩ Cách mạng dành cho người dân Việt Bắc. 15 năm ăn ở nơi đây, khiến cho thiên nhiên lẫn con người Việt Bắc đã in sâu trong tâm trí và trái tim của người các chiến sĩ. Mỗi âm thanh, mỗi hình ảnh, mỗi khoảnh khắc, mỗi dáng vẻ đều để lại cho người về những niềm thương nỗi nhớ tha thêm Là Nơi Freelancer Tìm Việc Nhiều Nhất Nhưng Vlance Vn Là Gì, Hướng Dẫn Sử Dụng Vlance Là GìVới thể thơ lục bát, bài thơ Việt Bắc đã đi vào lòng người như một bài ca đi cùng năm tháng, ca ngợi tình quân dân trong những năm kháng chiến gian khó.

phân tích việt bắc khổ 7