Các thuật ngữ chính (Key terms) - Tính trớ trêu (Irony): độ chênh giữa điều được nói và điều được ám chỉ, giữa nghĩa đen và nghĩa bóng. - Các biện pháp tu từ: hình ảnh (image), ẩn dụ (metaphor), biểu tượng (symbol), nhịp điệu (rhythm) …. - Lầm lẫn về ý định Các bộ môn. Danh sách cán bộ - giảng viên đương nhiệm Phương pháp. SO SÁNH QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM VÀ MỤC LỤCLỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG DANH MỤC HÌNH MỞ ĐẦU11.Tính cấp thiết của đề tài12. Mục đích nghiên cứu23. Yêu cầu của đề tài2CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU31.1. Cơ sở lý luận về công tác cấp giấy chứng nhận Các phương pháp và kĩ thuật dạy học môn Ngữ Văn. 1. Phương pháp vấn đáp. - Là p.pháp trong đó gv nêu câu hỏi để hs trả lời, qua đó hs lĩnh hội được nội dung bài học. + Vấn đáp tái hiện: Yêu cầu hs nhớ lại kiến thức đã biết hoặc tái hiện nội dung miêu tả, nội Phê Bình Văn Học. Các bài viết trên Phê bình văn học thể hiện cách đặt vấn đề, quan điểm, nhận định, phương pháp tiếp cận, thị hiếu và văn phong của tác giả. Chúng tôi giới thiệu và tôn trọng sự khác biệt, nhưng không nhất thiết đồng tình với bài viết. Nguồn kinh phí bố trí cho hoạt động khoa học và công nghệ của các Học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước cấp; phương thức phân bổ dựa vào đề 73gD1s. Tải về bản PDF Tải về bản PDF Bài luận phê bình là bài phân tích các tác phẩm như một cuốn sách, một bộ phim, một bài báo hoặc một bức tranh. Bài phê bình nhằm mục đích phân tích một khía cạnh nào đó của tác phẩm hoặc đưa tác phẩm vào một bối cảnh rộng hơn. Ví dụ, bài phê bình một cuốn sách có thể tập trung vào giọng văn để xác định xem giọng văn đó ảnh hưởng đến ý nghĩa của cả tác phẩm như thế nào. Hoặc một bài bình luận phim có thể tập trung vào sự lặp đi lặp lại của một biểu tượng trong phim. Dù là phê bình khía cạnh nào, mỗi một bài phê bình cần có một luận điểm về tác phẩm và dẫn chứng trong tác phẩm để chứng minh cho phân tích của tác giả.[1] Hãy đọc tiếp để biết cách viết một bài luận phê bình. 1Hiểu rõ yêu cầu của đề bài. Ngay khi giáo viên giao đề, hãy đọc kỹ hướng dẫn và đánh dấu những chỗ bạn chưa hiểu. Yêu cầu giáo viên giải thích đề bài nếu cần.[2] 2 Đọc kỹ tác phẩm. Bài tập viết bài phê bình yêu cầu bạn đánh giá một quyển sách, một bài báo, một bộ phim, một bức tranh hoặc các loại tác phẩm khác. Để có thể đánh giá được các tác phẩm này, bạn cần làm quen với nguyên văn tác phẩm. Nắm rõ tác phẩm bằng cách đọc đi đọc lại. Nếu bạn được yêu cầu viết về những tác phẩm như một bộ phim hay một bức tranh, hãy xem bộ phim đó nhiều lần hoặc ngắm bức tranh đó từ nhiều góc độ và khoảng cách khác nhau. 3 Ghi chép trong khi đọc. Ghi chép trong khi đọc sẽ giúp bạn nhớ được các khía cạnh quan trọng của tác phẩm cũng như giúp bạn suy nghĩ sâu hơn về tác phẩm đó. Hãy nhớ một vài câu hỏi quan trọng trong đầu khi đọc và cố gắng trả lời những câu hỏi đó khi xem lại ghi chép của bạn.[3] Tác phẩm viết về vấn đề gì? Các ý chính nào được nêu ra trong tác phẩm? Trong tác phẩm có điều gì khó hiểu không? Mục đích của tác phẩm là gì? Tác phẩm có đạt được mục đích đó không? Nếu không thì tại sao và như thế nào?[4] Không tóm tắt lại nội dung - bạn phải thuộc nội dung của câu chuyện rồiHãy ghi lại những suy nghĩ dẫn dắt bài luận Ý của tác giả là gì? Điều đó có kết nối với điều gì khác không? 4 Xem lại ghi chép để tìm ra bố cục và xác định vấn đề. Sau khi đã hoàn thành việc đọc và ghi chép về tác phẩm, hãy đọc lại ghi chép để xem tác phẩm được trình bày theo bố cục nào và vấn đề nào là vấn đề nổi bật đối với bạn. Cố gắng tìm ra giải pháp cho một trong các vấn đề bạn tìm được. Ví dụ, bạn có thể thấy rằng Chí Phèo thật tâm có vẻ lương thiện hơn vẻ bề ngoài, hãy đưa ra một phỏng đoán có tính nhân văn xem tại sao lại như vậy. Bạn nên chọn giải pháp có thể dùng để phát triển thành trọng tâm của bài luận, tuy nhiên lưu ý rằng bạn chưa cần phải đưa ra luận điểm chắc chắn ngay lúc này. Khi bạn tiếp tục nghiên cứu tác phẩm, bạn sẽ dần tìm ra được trọng tâm và luận điểm cho bài phê bình của mình.[5] Không tự suy diễn ý đồ của tác giả Nam Cao tạo nên hình tượng một Chí Phèo xấu xí bởi vì...Hãy diễn đạt điều đó thành cách hiểu của riêng bạn Chí Phèo vốn được tạo hình xấu xí một phần để khắc họa nên cuộc sống khốn khổ của hắn, qua đó, làm nổi bật sự khắc nghiệt của xã hội bấy giờ. Quảng cáo 1 Tìm nguồn tham khảo thông tin nếu được yêu cầu. Nếu bạn được yêu cầu dùng các nguồn thông tin để viết bài phê bình, bạn sẽ cần thực hiện một vài nghiên cứu. Đọc kỹ hướng dẫn của đề bài hoặc hỏi giáo viên nếu bạn có thắc mắc về loại nguồn nào là nguồn thích hợp để dùng trong bài. Sách, bài viết trên các tạp chí học thuật và các trang mạng đáng tin là một số nguồn mà bạn có thể dùng. Dùng dữ liệu trong thư viện hơn là tìm kiếm trên mạng internet. Thư viện của trường thường cho phép truy cập vào nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau. Các cơ sở dữ liệu này này cung cấp miễn phí các bài báo và tài nguyên khác mà bạn không thể truy cập được bằng các công cụ tìm kiếm trên mạng. 2 Đánh giá nguồn để xác minh độ tin cậy. Bạn chỉ nên sử dụng những nguồn đáng tin cậy để viết một bài phê bình mang tính học thuật, nếu không bạn sẽ làm mất đi sự tin cậy của mình với vai trò là tác giả. Sử dụng nguồn dữ liệu của thư viện đảm bảo bạn sẽ tìm được nhiều nguồn đáng tin cho bài viết của mình. Dưới đây là một vài điểm bạn cần xem xét để xác minh một nguồn thông tin có đáng tin hay không.[6] Tác giả và minh chứng về tác giả”. Chọn những nguồn có ghi tên tác giả và cung cấp minh chứng về tác giả đó. Minh chứng cần chỉ ra các thông tin như người này có đủ thẩm quyền hay chuyên môn để phát biểu như một chuyên gia về lĩnh vực này không. Ví dụ, bài báo nói về một loại bệnh sẽ đáng tin cậy hơn nếu tác giả là một bác sĩ. Nếu nguồn bạn tìm được không ghi tên tác giả hoặc tác giả không có minh chứng là đủ thẩm quyền thì nguồn đó có thể không đáng tin cậy.[7] Trích dẫn”. Xem xét xem tác giả của nguồn thông tin có tiến hành nghiên cứu kỹ càng về chủ đề hay không. Kiểm tra tiểu sử của các tác giả hoặc tác phẩm được trích dẫn trong nguồn. Nếu tác giả không trích dẫn hoặc chỉ trích dẫn một vài nguồn thì nguồn thông tin này không đáng tin cậy.[8] Định kiến”. Xem xét xem tác giải có trình bày một cách khách quan, hợp lý về chủ đề hay không. Giọng điệu của tác giả có thường ưu tiên cho một mặt của vấn đề không? Lý lẽ tác giả đưa ra có thường xuyên bác bỏ hay coi nhẹ quan điểm hoặc lý lẽ đối lập không? Nếu có, thì nguồn này không phải là một lựa chọn tốt.[9] Tuy nhiên, hãy lưu ý rằng bộ môn phê bình văn học thường thể hiện quan điểm riêng của người viết chỉ sau một lần đọc; điều này thường không được coi là có thành kiến vì bản chất của lĩnh vực nghiên cứu văn học này vốn là chủ quan.Không đánh giá thấp một tác giả chỉ vì họ ủng hộ một quan điểm nào bám sát luận điểm của họ với con mắt phân tích và tận dụng những luận cứ vững chắc. Ngày xuất bản”. Cân nhắc xem nguồn này có cập nhật các thông tin mới nhất về chủ đề không. Ngày xuất bản đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu về các chủ đề khoa học vì những công nghệ và phương pháp mới có thể đã chứng minh những phát kiến trước đó không hợp lý.[10] Thông tin được cung cấp”. Nếu bạn vẫn nghi ngờ về độ tin cậy của một nguồn nào đó, hãy kiểm tra chéo một số thông tin mà nguồn đó cung cấp với một nguồn mà bạn tin tưởng. Nếu thông tin mà tác giả đưa ra mâu thuẫn với thông tin trong nguồn mà bạn tin tưởng thì nguồn đó không đáng tin cậy để đưa vào bài viết.[11] 3Đọc nghiên cứu. Khi bạn đã thu thập được tất cả các nguồn thông tin cần thiết, bạn cần dành thời gian đọc chúng. Sử dụng phương pháp đọc giống như khi bạn đọc nguyên văn tác phẩm. Đọc các nguồn thông tin bạn được tìm nhiều lần và đảm bảo bạn hiểu chúng một cách thấu đáo. 4 Ghi chép khi đọc. Tô đậm hoặc gạch chân những đoạn văn quan trọng để bạn dễ dàng tìm đọc lại chúng. Khi đọc, bạn cũng nên ghi lại các thông tin đáng chú ý vào muộn cuốn sổ. Ghi rõ bạn đã trích dẫn nguyên văn thông tin từ nguồn nào bằng cách đặt thông tin đó vào trong dấu ngoặc kép, ghi chú các thông tin về nguồn trích dẫn như tên tác giả, tác phẩm và số trang. Không nhấn mạnh một đoạn nào đó chỉ vì nó có vẻ quan trọng hoặc có ý mạnh những đoạn văn củng cố hoặc làm yếu đi luận điểm của bạn. Quảng cáo 1 Xây dựng quan điểm. Khi bạn đã xây dựng được quan điểm của mình về tác phẩm gốc và đã đọc tác phẩm gốc, bạn sẽ sẵn sàng cho việc viết luận điểm.[12] Luận điểm tốt là luận điểm thể hiện được nội dung trọng tâm của bài viết và nêu ra quan điểm của tác giả. Bạn có thể trình bày luận điểm bằng nhiều câu, câu thứ nhất đưa ra quan điểm chung và câu thứ hai thu hẹp lại thành một quan điểm cụ thể hơn.[13] Đảm bảo luận diểm cung cấp đủ thông tin. Hay nói cách khác, tránh nói đơn giản một điều gì đó “tốt” hoặc “hiệu quả”, hãy nói cụ thể vì sao điều đó “tốt” hay “hiệu quả”.[14] Đặt luận điểm ở cuối đoạn văn đầu tiên nếu giáo viên của bạn không yêu cầu đặt luận điểm ở vị trí khác. Cuối đoạn văn đầu tiên là vị trí truyền thống để trình bày luận điểm trong các bài luận học thuật. Ví dụ, đây là một luận điểm có nhiều câu về hiệu quả và mục đích của bộ phim “Max điên cuồng Con đường tử thần” “Rất nhiều bộ phim hành động đều có chung một mô-típ Một nam anh hùng thường đẹp trai, da trắng đi theo niềm tin vào số mệnh và ra lệnh cho những người khác, hoặc là nghe theo anh ta hoặc là chết. “Mad Max Con đường tử thần” đạt được hiệu quả khi đi ngược lại với mô-típ trên. Thay vì đi theo diễn biến quen thuộc, bộ phim đưa vào nhiều anh hùng, trong đó có nhiều nữ anh hùng, thách thức chuẩn mực lâu đời của các bộ phim bom tấn mùa hè trong làng phim Hollywood”.Không đưa ra những thông tin hiển nhiên Mad Max được đạo diễn bởi George Miller hoặc ý kiến chủ quan Mad Max là bộ phim hay nhất năm 2015.[15] Hãy thể hiện luận điểm mà bạn có thể củng cố bằng luận cứ. 2 Lập dàn ý dựa trên ghi chép. Lập dàn ý trước khi viết nháp để tổ chức thông tin hiệu quả hơn. Dàn ý có thể chi tiết hoặc không chi tiết. Càng nhiều chi tiết được đưa vào dàn ý thì bạn càng chuẩn bị tốt cho bài viết của mình.[16] Bạn có thể xây dựng dàn ý sử dụng gạch đầu dòng bằng số la mã, chữ số và chữ cái. Hoặc bạn có thể sử dụng dàn ý dạng sơ đồ tư duy để tìm kiếm và tập trung ý tưởng trước khi hoàn thiện phát triển ý. 3 Mở bài bằng một câu đi thẳng vào chủ đề. Chủ đề nên được giới thiệu luôn ở phần mở đầu. Dùng các ý chính bạn sẽ triển khai trong bài để giúp bạn xác định cần đưa thông tin nào vào phần này. Phần mở bài luôn luôn giới thiệu ý chính và cái nhìn toàn cảnh về nội dung của cả bài. [17] Không mở đầu bằng những cụm từ sáo rỗng như Trong xã hội ngày nay..., Trong suốt lịch sử..., Ai đó đã nói rằng....Hãy mở đầu bằng một thực tế thu hút, một giai thoại hoặc một cách viết gây chú ý nào đó với nội dung liên quan.[18] Một số kỹ thuật viết mở bài khác bao gồm sử dụng một chi tiết cụ thể để gợi lên quan điểm lớn hơn; đặt câu hỏi mà bài luận của bạn đưa ra câu trả lời, hoặc đưa vào một thông tin hấp dẫn.[19] 4 Cung cấp thông tin nền. Cung cấp đủ thông tin nền hay ngữ cảnh để hỗ trợ người đọc. Cân nhắc và cung cấp trong đoạn mở đầu các thông tin mà người đọc cần biết để hiểu được bài luận của bạn. Thông tin nền sẽ rất đa dạng phụ thuộc vào loại tác phẩm mà bạn phê bình.[20] Không tóm tắt lại các phần nội dung không liên quan tới bài viết phần mở bài sao cho phù hợp với độc giả. Một hội nghị gồm các giáo sư dạy môn Anh ngữ sẽ cần ít thông tin bổ sung hơn so với độc giả của các blog trên mạng. Nếu bạn phê bình một cuốn sách, hãy cung cấp tên tác phẩm, tác giả và tóm tắt cốt truyện. Nếu bạn viết về một bộ phim, hãy nói ngắn gọn về nội dung. Nếu bạn viết về một bức họa, hãy miêu tả khái quát. Luôn ghi nhớ thông tin nền phải hướng đến luận điểm. Cung cấp những gì người đọc cần biết để hiểu về chủ đề và thu hẹp thông tin để giới thiệu luận điểm.[21] 5 Dùng các đoạn trong phần thân bài để thảo luận từng phần của tác phẩm. Thay vì nói về nhiều khía cạnh của tác phẩm trong một đoạn văn, mỗi đoạn chỉ nên tập trung vào một phương diện. Mỗi phương diện đều hướng đến làm rõ cho luận điểm.[22] For each body paragraph, you should do the following Đưa ra ý chính ở đầu đoạn văn. Chứng minh ý chính bằng ít nhất một ví dụ từ nguyên văn tác phẩm. Chứng minh ý chính bằng ít nhất một ví dụ từ các nguồn khác. 6 Xây dựng phần kết bài. Kết bài cần làm nổi bật quan điểm bạn trình bày trong bài.[23] Trước khi bạn viết phần kết bài, dành thời gian xâu chuỗi lại các ý bạn đã viết và xác định hướng kết bài tốt nhất. Có nhiều cách kết bài khác nhau mà bạn có thể chọn. Ví dụ, bạn có thể Tóm tắt và nhắc lại ý chính. Nêu ra sự ảnh hưởng của chủ đề tới người đọc. Chủ đề có thể được đưa vào bối cảnh hay nhận xét rộng hơn như thế nào. Kêu gọi hành độnghoặc các nghiên cứu sâu hơn. Nêu ra những vấn đề mới có thể phát triển từ chủ lặp lại các điểm mà bạn đã nêu trước nhắc tới các điểm trước đó và kết nối chúng thành một luận điểm duy nhất. Quảng cáo 1 Nghỉ một vài hôm trước khi đọc lại bản nháp. Việc nghỉ ngơi sẽ giúp não bộ làm việc tốt hơn. Khi bạn quay lại với bản nháp, bạn sẽ có một cái nhìn hoàn toàn mới. Viết bài trước để có thể dành ra vài ngày hoặc thậm chí một tuần để kiểm tra bài trước khi hến hạn. Nếu bạn không chuẩn bị đủ thời gian bạn sẽ dễ mắc những lỗi đơn giản và dễ bị mất điểm. 2 Dành thời gian xem lại và làm rõ các ý khó hiểu. Khi kiểm tra lại bài cần kiểm tra trên nhiều phương diện để đảm bảo người đọc hiểu hết các ý bạn muốn trình bày. Cân nhắc một số câu hỏi sau Ý chính của bạn là gì? Bạn có thể làm rõ ý chính bằng cách nào? Người đọc là ai? Bạn đã cân nhắc nhu cầu và yêu cầu của họ chưa? Mục đích của bạn là gì? Bài luận này đã hoàn thành được mục đích đó chưa? Dẫn chứng bạn đưa ra có thuyết phục không? Bạn có thể củng cố dẫn chứng bằng cách nào? Các phần trong bài có tập trung phát triển luận điểm không? Bạn có thể tăng cường tính liên kết bằng cách nào? Ngôn ngữ và bố cục có gì khó hiểu không? Bạn có thể làm rõ ngôn ngữ và bố cục như thế nào? Bạn có mắc các lỗi về ngữ pháp, dấu câu hay chính tả không? Nếu có thì sửa như thế nào? Người khác có thể có quan điểm nào trái với quan điểm của bạn? Bạn bác bỏ quan điểm của họ trong bài luận bằng cách nào?[24] 3 Hoàn thiện bài viết bằng việc kiểm tra kỹ lỗi chính tả trên bản cứng. Đọc to bài viết để đảm bảo bạn đã sửa hết các lỗi đánh máy, lỗi ngữ pháp, lỗi dùng từ, đặt câu và các lỗi khác. Dù phát hiện ra một lỗi nhỏ cũng nên sửa, in lại trước khi nộp. Nếu bạn nộp bản mềm bài viết qua email, hãy hỏi giáo viên các yêu cầu về định dạng. Bạn có thể lưu dưới dạng tệp PDF để đảm bảo định dạng bài làm không bị mất. Quảng cáo Lời khuyên Nhờ bạn bè, người thân hoặc người quen kiểm tra lỗi chính tả và nhận xét bài viết. Các nhà văn chuyên nghiệp đọc lại bản thảo của họ nhiều lần và bạn cũng nên làm như vậy. Sẽ dễ hơn nếu bạn viết dàn ý cho phần mở bài và quay lại viết hoàn thiện sau khi đã viết các phần tiếp theo. Nếu bạn thấy bí khi viết mở bài, cứ để đó và viết sau. Viết theo cách của bạn. Ví dụ, nhiều người cần viết dàn ý nhưng người khác lại cho rằng dàn ý hạn chế khả năng viết của họ. Hãy tìm ra quy trình viết phù hợp cho riêng bạn. Lưu ý cách dùng từ. Nên dùng đúng những từ bạn biết thay vì để nghe học thuật hơn mà dùng sai những từ bạn không biết. Bắt đầu viết sớm nhất có thể. Bạn sẽ viết bài tốt hơn và ít bị stress khi dành thời gian viết bài đều đặn trong suốt khóa học hơn là viết gấp rút trong một thời gian ngắn. Thu hẹp chủ đề trong quá trình viết. Nhiều sinh viên mắc sai lầm khi chọn chủ đề quá rộng với suy nghĩ là chủ đề rộng sẽ có nhiều thứ để viết. Thực ra thì chọn một chủ đề hẹp sẽ dễ viết hơn. Ví dụ, viết về vấn đề chiến tranh đúng hay sai gần như là không thể. Ngược lại, nếu viết về việc có nên phản đối một cuộc chiến tranh cụ thể không sẽ dễ dàng hơn. Nếu gặp khó khăn với việc xây dựng bố cục, hãy viết dàn ý dựa trên câu chủ đề của các đoạn văn. Trong dàn ý hãy viết một câu miêu tả mối quan hệ giữa các câu chủ đề. Nếu bạn không thể đưa mối quan hệ này một cách nhanh chóng thì các đoạn văn của bạn chưa được sắp xếp đúng trình tự và cần được sắp xếp lại. Bạn sẽ không có đủ thời gian để đọc hết cả mười hay mười hai cuốn sách về chủ đề của mình. Hãy sử dụng mục lục để tìm đọc các chương quan trọng nhất. Cảnh báo Viết bài kiểu nước đến chân mới nhảy sẽ mắc nhiều lỗi diễn đạt và lỗi ngữ pháp. Giáo viên của bạn đã đọc hàng trăm thậm chí hàng nghìn bài luận của sinh viên nên có thể dễ dàng nhận ra bạn có đợi đến phút cuối mới viết bài hay không. Ghi nguồn thông tin mà bạn dùng bao gồm các trích dẫn, số liệu, khái niệm lý thuyết chính xác nhất có thể. Nếu không chắc chắn thì lỗi sai về mặt trích dẫn vẫn có thể chấp nhận được còn không trích dẫn có thể sẽ bị coi là đạo văn. Về bài wikiHow này Trang này đã được đọc lần. Bài viết này đã giúp ích cho bạn? Thuật ngữ phân tâm học’ do Sigmund Freud đặt ra vào năm 1896. Thời gian đầu, đó chỉ thuần tuý là một khoa học và là một phương pháp trị bệnh, sau, ảnh hưởng lan rộng sang địa hạt văn học, trở thành một phương pháp phê bình. Phần tóm lược dưới đây chỉ nhằm cung cấp cho bạn đọc một tấm bản đồ’ của các lý thuyết văn học lớn trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay, chủ yếu để giúp bạn đọc dễ theo dõi các bài viết về lý thuyết và phê bình văn học đăng tải trên Tiền Vệ. Khi đọc, xin bạn đọc lưu ý cho một điểm không có một lý thuyết nào có thể được tóm lược một cách trung thành và trung thực, do đó, tấm bản đồ’ này chỉ nên được sử dụng như một cơ sở để tham khảo, từ đó, đọc thêm, hơn là để đánh giá các lý thuyết ấy. Với mục đích giới thiệu’, tôi chỉ chọn một số những lý thuyết chính và có ảnh hưởng nhất mà thôi. ó là Hình thức luận của Nga Formalism Phê Bình Mới của Anh và Mỹ New Criticism Cấu trúc luận Structuralism Hậu cấu trúc luận / Giải cấu trúc Poststructuralism/Deconstruction Các lý thuyết Mác-xít Marxist Theories Thuyết người đọc Reader Theory Phân tâm học Psychoanalysis Nữ quyền luận Feminism Thuyết lệch pha Queer Theory Chủ nghĩa hậu thực dân Postcolonialism Chủ nghĩa hậu hiện đại Postmodernism Chủ nghĩa tân duy sử New Historicism và Chủ nghĩa duy vật văn hoá Cultural Materialism Về tài liệu tham khảo, tôi chỉ ghi những tác phẩm chính, mới và dễ tìm nhất, chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Nguyễn Hưng Quốc ___________________ PHÂN TÂM HỌC Thuật ngữ phân tâm học’ do Sigmund Freud đặt ra vào năm 1896. Thời gian đầu, đó chỉ thuần tuý là một khoa học và là một phương pháp trị bệnh, sau, ảnh hưởng lan rộng sang địa hạt văn học, trở thành một phương pháp phê bình. Với tư cách là một phương pháp phê bình, phân tâm học xem tác phẩm văn học như một thế giới huyễn tưởng trong đó, nhân vật có đời sống riêng, với những quy luật tâm lý riêng. Tất cả mọi chi tiết được mô tả trong thế giới huyễn tưởng ấy đều được xem là những biểu tượng phản ánh những ước muốn âm thầm cũng như những dồn nén trong vô thức của tác giả. Xin lưu ý, với các nhà phân tâm học, vô thức’ không phải là sự thiếu vắng ý thức mà là một cõi riêng, một phần riêng trong cấu trúc tâm thức của con người, nơi chứa đựng những xung lực có tính bản năng và những ước mơ không thể thực hiện được, thậm chí, không thể chấp nhận được trong một xã hội được xem là văn minh. Những xung lực và những ước mơ bị dồn nén này không ngừng tìm cách trồi lên vùng ý thức dưới nhiều hình thức nguỵ trang khác nhau và qua nhiều cách thức khác nhau, trong đó, những cách thức phổ biến nhất là nói tục, nói nhịu và đặc biệt, các giấc mơ. Các nhà phân tâm học xem giấc mơ như cửa ngõ chính dẫn vào thế giới vô thức. Các nhà phê bình theo khuynh hướng phân tâm học xem tác phẩm văn học y như một giấc mơ nếu giấc mơ là một sự hoàn thành trá hình những ước muốn bị dồn nén của con người, tác phẩm cũng chỉ là hình thức thăng hoa của các ẩn ức từ trong vô thức và từ thời thơ ấu. Hoạt động của giấc mơ – cũng như của tác phẩm văn học – có thể được tóm gọn vào hai quá trình chính, dồn nén’ và hoán vị’. Trong quá trình dồn nén’, vô số các ước mơ, các ẩn ức và các mặc cảm khác nhau sẽ được kết tập vào một hình thức biểu hiện nhất định, sau đó, hình thức biểu hiện này sẽ được nguỵ trang, tức được hoán chuyển sang một hình thức khác phù hợp với các quy ước đạo đức và văn hoá của xã hội. Hai quá trình dồn nén’ và hoán chuyển’ này tương tự hai cấu trúc ẩn dụ’ dồn nén ý nghĩa lại theo nguyên tắc tương đồng và hoán dụ’ hoán chuyển ý nghĩa này sang ý nghĩa khác theo nguyên tắc tương cận mà Roman Jakobson đã phát hiện như hai cái trục chính trong sinh hoạt ngôn ngữ nhân loại. Chính vì sự tương tự này, Jacques Lacan đã đi đến một kết luận nổi tiếng “vô thức cũng được cấu trúc như ngôn ngữ.” Với công thức này, Lacan trở thành một đại biểu của phân tâm học theo khuynh hướng cấu trúc luận. Tuy nhiên, sau đó, ông đã đi xa hơn về hướng hậu cấu trúc luận khi ông không dừng lại ở hai trục ẩn dụ và hoán dụ mà còn cho ngôn ngữ được hình thành từ những cái biểu đạt signifiers hơn là các ký hiệu signs với những ý nghĩa cố định. Ví dụ, nếu chúng ta nằm mơ thấy một con ngựa; con ngựa ấy sẽ không phải là một ký hiệu theo ý nghĩa mà Ferdinand de Saussure thường dùng, mà nó chỉ là một cái biểu đạt từ đó, chúng ta có thể diễn dịch ra nhiều cái được biểu đạt, tức nhiều ý nghĩa khác nhau. Vô thức, bởi vậy, với Lacan, là một chuỗi vận động liên tục của các cái biểu đạt, ở đó, những cái được biểu đạt thường bị đèn nén, không vươn lên tầm ý thức được. Bị tác động bởi vô thức, chúng ta sẽ không bao giờ nói được hoàn toàn đúng những gì chúng ta muốn nói mọi diễn ngôn đều ít nhiều mang tính nói nhịu, do đó, mơ hồ, hơn nữa, hàm hồ. Ý nghĩa luôn luôn là cái gì dở dang, lẫn lộn giữa những yếu tố có tính truyền thông và những yếu tố phi truyền thông, vừa sáng rõ vừa tăm tối, vừa ngỡ như có thể nắm bắt được lại vừa phấp phới bay ra xa. Quan niệm này dẫn dến một quan niệm khác về ngôn ngữ giống các nhà cấu trúc luận khác, Lacan tin ngôn ngữ là cái gì không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của cá nhân ngôn ngữ có trước chúng ta, luôn luôn có sẵn ở đâu đó để chờ đợi chúng ta. iều này có nghĩa là vô thức không phải được cấu trúc như ngôn ngữ mà còn là sản phẩm của ngôn ngữ. ây chính là một trong vài sự khác biệt lớn nhất giữa Lacan và Freud Trong khi Freud nhấn mạnh vào các yếu tố sinh lý, Lacan nhấn mạnh vào yếu tố ngôn ngữ với ông, không có bất cứ một chủ thể nào độc lập với ngôn ngữ. Trong khi Freud quan tâm một cách đặc biệt đến mối quan hệ giữa bản tính tự nhiên và văn hoá, ở đó, theo ông, ưu thế sẽ thuộc về văn hoá, Lacan quan niệm cái gọi là bản tính bẩm sinh là cái gì không thể nhận diện được trọn vẹn vì nó luôn luôn bị ảnh hưởng bởi cái ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng với ông, con người vừa không bao giờ có thể được định nghĩa trọn vẹn lại vừa không thể trốn thoát được các định nghĩa mỗi người luôn luôn ở trong quá trình tự tìm chính mình. Sự khác biệt này lại dẫn đến một khác biệt khác nữa Trong khi Freud hay nói đến bản năng và những xung lực từ vô thức, Lacan lại hay nói đến những ước mơ với ông, ước mơ là cái gì có tính bản thể luận, một cuộc đấu tranh nhằm vươn lên cái toàn thể hơn là gắn liền với những xung lực tính dục. Mọi ước mơ đều gắn liền với sự thiếu hụt. Ngay chính ngôn ngữ con người cũng hoạt động trên sự thiếu hụt ấy điều kiện để từ ngữ có ý nghĩa là sự vắng mặt của cái được biểu đạt và sự loại trừ vô số những cái biểu đạt khác. Lý thuyết phân tâm học thay đổi, phê bình dưới nhãn quan phân tâm học cũng thay đổi theo. Thoạt đầu, các nhà phê bình phân tâm học cổ điển’ xem tác phẩm như một biểu hiện hoặc một phản ánh vô thức, do đó, cho công việc chính của phê bình là phân tích văn bản để nhận diện những gì giấu kín trong vô thức của tác giả. Sau, phần lớn xem tác phẩm như một công trình sản xuất, một thứ production, hơn là product, ở đó, nhiệm vụ chính của nhà phê bình không phải là đọc’ cái văn bản có sẵn mà là cố gắng khám phá quá trình hình thành của văn bản, không phải tìm xem văn bản nói cái gì mà là nhằm phát hiện văn bản ấy được tạo dựng như thế nào. Trong công việc khám phá và phát hiện ấy, nhà phê bình cần chú ý đến những triệu chứng’ tương đối bất bình thường như những sự bóp méo, sự vắng mặt hay sự lặp lại… của một số yếu tố nào đó trong văn bản. Trước, người ta chỉ tập trung truy nguyên diện mạo vào tác giả; sau, từ thập niên 1950, một số nhà phân tâm học chuyển hướng phân tích từ tác giả sang độc giả. Theo Norman Holland, nguồi suối của mọi niềm vui do văn học mang lại là, qua việc đọc tác phẩm – một hế thống được mã hoá, chúng ta có thể hoán chuyển những ước muốn từ vô thức thành những ý nghĩa văn hoá mà mọi người có thể chấp nhận được. ọc, như vậy, với Holland, trước hết và trên hết, là một hành động tái tạo bản sắc của chính độc giả. Trong công việc tìm hiểu tác giả, trước, người ta chỉ tập trung vào vô thức cá nhân; sau, dưới ảnh hưởng của Carl Jung, người ta còn quan tâm đến cả vô thức tập thể, từ đó, dẫn đến lý thuyết phê bình cổ mẫu archetypal criticism, như một bước phát triển lệch hướng của Phê Bình Mới, với đại biểu chính là Northrop Frye. Bên cạnh đó, Harold Bloom dùng lý thuyết về mặc cảm Oedipus của Freud để hình dung lịch sử văn học như một cuộc đấu tranh’ liên lỉ giữa các thế hệ cầm bút người nào cũng lo lắng và nung nấu khát vọng thoát khỏi cái bóng của một bậc tiền bối hay đàn anh nào đó mà mình ái mộ. Theo Bloom, bất cứ bài thơ nào cũng có thể được đọc như một nỗ lực thoát ra khỏi ảnh hưởng của những bài thơ được sáng tác trước đó; nói cách khác, mọi bài thơ đều được viết lại từ những bài thơ khác; ý nghĩa của một bài thơ, do đó, là một bài thơ khác. Phân tâm học cũng có những ảnh hưởng nhất định lên một số những lý thuyết hậu hiện đại hàng đầu thế giới như Jacques Derrida, Gilles Deleuze, Félix Guattari, Julia Kristeva và nhiều nhà nữ quyền luận khác. Tài liệu tham khảo thêm Psychoanalytic Criticism, a Reappraisal của Elizabeth Wright 1998, Cambridge Polity Press; Literature, Science, Psychoanalysis, 1830-1970 Essays in Honour of Gillian Beer do Helen Small và Trudi Tate biên tập 2003, Oxford Oxford University Press; Literature and Analysis Intertextual Readings của Ruth Parkin-Gounelas 2001, New York Palgrave. Nguồn Phạm Phú Phong 1. Khác với các lĩnh vực kinh tế – xã hội khác, sự vận động và phát triển của văn hóa/ văn học nghệ thuật là một dòng chảy liền mạch lâu dài, liên tục, trên đó, có thể được cắm những dấu mốc quan trọng định vị sự đổi thay, nhưng không hề đứt đoạn. Vì vậy, đối với lý luận phê bình, thể văn được mệnh danh là luôn “đi trước một bước”, không phải đợi đến đại hội lần thứ VI, tháng 12 năm 1986, Đảng đề xướng công cuộc đổi mới, lý luận phê bình mới bắt đầu “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” 1, mà có lẽ đã có mầm mống từ trước, từ phát biểu Đề dẫn trong Hội nghị đảng viên Hội Nhà văn Việt Nam diễn ra trong ba ngày 11,12 và 13 tháng 6. 1979 của Nguyên Ngọc, từ sự lãnh đạo của Ban Văn hóa văn nghệ trung ương mà đứng đầu là Trưởng ban Trần Độ và Phó trưởng ban Nguyễn Văn Hạnh, đưa đến sự khởi đầu một cách mạch lạc trong bài Về một đặc điểm của nền văn học ta trong giai đoạn vừa qua báo Văn nghệ số 23, tháng của Hoàng Ngọc Hiến. “Một bài báo làm lao đao số phận người viết ra nó, nhưng cũng đem lại vinh quang cho tác giả” Phạm Xuân Nguyên, trong đó đã vạch rõ đặc điểm cơ bản của “nền văn học nước ta ba mươi năm qua là đã để cho cái cao cả lấn át cái đẹp”, đưa đến một “chủ nghĩa hiện thực phải đạo, chứ không phải chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như ta lầm tưởng”2. Bài báo như một quả bom tấn nổ giữa đời sống lý luận, phê bình vốn đang bình lặng, một chiều theo kiểu xu phụ, bằng lòng với niềm tự hào, dù là niềm tự hào chính đáng, về một nền “văn nghệ đi tiên phong chống đế quốc”, và đưa Hoàng Ngọc Hiến trở thành người tiên phong đổi mới tư duy trong lý luận, phê bình văn học. Hoàng Ngọc Hiến không chỉ là một người minh triết trong tư tưởng và tư duy nhạy bén với cái mới, mà còn là một trí thức dấn thân, sống có chủ kiến, biết vận động tư duy đi đến cùng và biết bảo vệ chủ kiến của mình. Thời gian sau đó, ông không chịu dừng ở các đặc điểm cơ bản đang chịu sóng gió của búa rìu dư luận, mà còn dấn sâu vào vấn đề cơ bản của chân lý là phủ nhận chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bởi, theo ông, không thể có một chủ nghĩa hiện thực cho tất cả các loại hình nghệ thuật, hơn nữa, theo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng là vật chất quyết định ý thức, nhưng trên thế giới vẫn chưa có một xã hội nào đích thực là xã hội chủ nghĩa với ý nghĩa vật chất toàn vẹn của nó thì làm gì có lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Những kiến giải và lập luận vững chải của ông lại tiếp tục chịu nhiều “đòn roi” của dư luận từ nhiều phía 3, mà ông thì không có diễn đàn để trao đổi lại. Sự việc đúng, hoặc sai đến đâu, cho đến nay vẫn chưa được phân định một cách rạch ròi, nhưng ở các nước đứng hàng đầu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây như Liên xô cũ, Trung Quốc và cả ở Việt Nam “mươi năm trở lại đây, không tìm thấy tạp chí nào còn đăng những bài viết về hiện thực xã hội chủ nghĩa” 4, hoặc lùi thêm một thời gian nữa, “từ những năm chín mươi của thế kỷ XX đến nay, hệ thống lý luận về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa và cùng với nó là phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, sau hơn bảy mươi năm tồn tại và phát triển, đã không đủ sức trụ vững ngay trên chính quê hương của nó. Dường như nó đã hoàn tất sứ mệnh lịch sử của mình để nhường chỗ cho những quá trình văn học khác đang nhen nhóm và thay thế” 5. Có thể thấy rằng, trong hoạt động thực tiễn và phương pháp tư duy lý luận nhạy bén của Hoàng Ngọc Hiến, có sự tiên cảm mạnh mẽ về tương lai, luôn sẵn sàng đoạn tuyệt với quá khứ, với một thái độ dứt khoát, quyết liệt đi về phía tương lai, đến mức phủ nhận cả chính mình, coi cái bằng tiến sĩ của mình chỉ là “bằng tiến sĩ giấy”, bởi vì đã nghiên cứu về Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong sáng tác của Maiacovski ! Tất nhiên, một cánh én không thể làm nên được mùa xuân, cùng thời điểm đó, theo Trần Đình Sử là “Bước vào giữa năm 1979 trên tạp chí Văn học của Viện Văn học cũng như trên tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam đã thấy có những dấu hiệu mới. Đó là Hoàng Trinh giới thiệu lý thuyết thông tin, Vương Trí Nhàn trích dịch ý kiến của Bakhtin, lượt thuật khái niệm thi pháp ở Liên xô, Lê Sơn, Trương Đăng Dung, Nguyễn Văn Dân giới thiệu về văn học so sánh, Nguyễn Lai nêu quan hệ văn học và ngôn ngữ, khả năng phân tích văn học từ ngữ nghĩa học, giới thiệu lý thuyết tiếp nhận, Lại Nguyên Ân giới thiệu vấn đề nhịp điệu, không gian thời gian trong nghệ thuật, Trần Đình Sử đăng bài nghiên cứu Thời gian nghệ thuật trong Truyện Kiều, Phan Ngọc công bố một số nghiên cứu theo lối cấu trúc, Trần Thị Mai Nhi viết về chủ nghĩa hiện đại phương Tây…” 6, – 175. Chưa kể đến sự tác động mạnh mẽ về phía thực tiễn sáng tác, nhất là ở thể loại truyện ngắn hoặc thơ, như những chuyển động mới về lý tưởng thẩm mỹ trong truyện ngắn của các tác giả Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, trong thơ của Lê Đạt, Dương Tường, Thanh Thảo, Trương Đăng Dung… Tình hình đó, tất yếu phải đưa đến công cuộc đổi mới tư duy trong văn học nghệ thuật, mở đầu bằng cuộc gặp gỡ lịch sử của người lãnh đạo cao nhất của Đảng đối với văn nghệ sĩ và sau đó là Nghị quyết 05 – NQ/TW của Bộ Chính trị về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới công bố trên hệ thống thông tin đại chúng ngày Điều này, nhắc ta nhớ lại bài học lịch sử về sự lãnh đạo năng động, sâu sát, kịp thời và sáng suốt của Đảng khi đưa ra Đề cương văn hóa 1943, nhằm định hướng sự phát triển của văn hóa nước ta đi đúng quĩ đạo của truyền thống văn hóa dân tộc, trước sự ra đời liên tục, có tính chất bùng nổ của các công trình nghiên cứu của các bộ môn khoa học về văn học, như Phê bình và cảo luận 1933 của Thiếu Sơn, Văn chương và hành động 1936 của Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư và Lê Tràng Kiều, Việt Nam văn hóa sử cương 1940 của Đào Duy Anh, Việt Nam cổ văn học sử 1941 của Nguyễn Đổng Chi, Thi nhân Việt Nam 1941 của Hoài Thanh và Hoài Chân, Việt Nam văn học sử yếu 1942 của Dương Quảng Hàm… 2. Người được coi là kiến trúc sư của công cuộc đổi mới là Trường Chinh, nhà lý luận văn nghệ của Đảng, là người hai lần được bầu vào cương vị Tổng bí thư của Đảng, lần trước 1941-1956, đã đưa ra Đề cương văn hóa và lần này từ tháng 7 đến tháng đã có tầm nhìn chiến lược về qui luật vận động của lịch sử và nhận ra vấn đề cốt tử của vận mệnh đất nước, đề ra một quyết sách có ý nghĩa quyết định Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời đại và chuyển giao cho Nguyễn Văn Linh làm tổng công trình sư. Trong đề án thiết kế của mình, Trường Chinh còn nêu rõ “ngoài việc thể hiện những con người tốt, việc tốt thì cũng phải nêu lên, phải vẽ ra những con người xấu, việc xấu để mọi người khinh ghét, tránh xa những cái xấu, làm như vậy không phải là để lên án chế độ mà để chống lại những con người, những sự việc làm trái với lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa xã hội …, cần chú ý xây dựng trong tác phẩm của mình những hình tượng chân thật, truyền cảm, có sức thuyết phục cao về những người lao động chân chính đang lao động chân tay và trí óc quên mình, dũng cảm vượt qua mọi thiếu thốn, khó khăn, vượt qua sự cám dỗ ma quỷ để xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới mà Đảng ta đã đề ra…” 7, Để chuẩn bị cho sự ra đời của Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, trước đó gần hai tháng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có động thái đầu tiên hết sức ấn tượng tổ chức cuộc gặp gỡ với gần một trăm đại biểu văn nghệ sĩ trong hai ngày 6 và để lắng nghe tâm tư nguyện vọng của từng cá nhân. Trong hồi ký văn học Nhớ lại, Đào Xuân Quý kể rằng “Thực ra trước đây các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng cũng đã nhiều lần có những cuộc gặp gỡ thân mật với anh chị em văn nghệ sĩ, nhưng đó là những cuộc gặp gỡ nhân dịp đầu năm, hoặc nhân một ngày lịch sử nào đó để khích lệ, ủy lạo hay để cùng nhau chung vui một vài giờ gặp mặt. Nhưng lần này đồng chí Nguyễn Văn Linh gặp anh em là để lắng nghe những ý kiến phát biểuvề sự lãnh đạo của Đảng ở lĩnh vực hoạt động này, tìm hiểu những khó khăn vướng mắc của anh chị em và cùng nhau tìm cách giải quyết. Đồng chí đã lắng nghe suốt hai ngày liền để tìm hiểu cho được nguyên nhân, vì sao những cống hiến trên lĩnh vực này hãy còn quá nghèo nàn. Lỗi tại ai ? Có một phần ở anh em chúng ta tài năng còn ít, đời sống hằng ngày vẫn còn nhiều khó khăn, điều kiện làm việc hãy còn bị hạn chế rất nhiều, đó là chưa kể những thành phần cơ hội, xu nịnh, bợ đỡ, những kẻ “mưu sinh” gây thêm khó khăn không ít cho chính đội ngũ của mình. Nhưng nguyên nhân chính, có tính chất quyết định là ở sự lãnh đạo của Đảng trong một thời gian khá dài vừa qua, nhất là những cách hiểu lệch lạc của một số người lãnh đạo trong lĩnh vực này, quan niệm “chính trị là thống soái”, “văn nghệ phải phục vụ chính trị, văn nghệ là vũ khí, là công cụ của Đảng…” đã trói buộc anh em văn nghệ sĩ, làm cho họ cảm thấy luôn luôn bị cấm đoán, đe dọa và luôn luôn phải lo sợ cho ngòi bút của mình!” 8, Bên cạnh Ngị quyết 05, còn có Chỉ thị số 82-CT/TW của Ban Bí thư về công tác tư tưởng Chỉ thị 52-CT/TW của Ban Bí thư về Đổi mới và nâng cao chất lượng phê bình văn học nghệ thuật đã mở ra một chân trời mới, rộng mở, thông thoáng cho thực tiễn sáng tác và lý luận phê bình phát triển. Cao trào đổi mới được đánh dấu mốc từ năm 1987, với nhiều phát ngôn của các nhà văn, nhà lý luận, phê bình, thậm chí của cả người đọc, được công bố trên báo Văn nghệ, như Khi thực tiễn lên tiếng số 27, ngày của Ngô Thảo, Nhà báo số 27, ngày của Nguyễn Khải, Đổi mới tư duy, khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật số 33, ngày của Nguyễn Văn Hạnh, Đại hội Nhà văn lần này cần theo đúng tinh thần nhìn thẳng vào sự thật số 8, ngày của Xuân Cang, Vấn đề văn học phản ánh hiện thực số 20, ngày của Lê Ngọc Trà, Suy nghĩ và mong ước của một người đọc số 20, ngày của Hoàng Minh, Đọc văn phải khác đọc sử số 29,30, ngày của Lại Nguyên Ân… mà đỉnh cao vang dội với tất cả sự cường tráng về tư tưởng đổi mới, nêu rõ sự cáo chung của một thời đại văn học đã đi vào quá khứ và lập trường dứt khoát từ bỏ lối tư duy theo kiểu cũ để đến với tư duy mới là Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa số 49,50, ngày của Nguyễn Minh Châu. Xu thế phát triển tất yếu của lý luận phê bình với tư cách là thể văn chương lý trí, cũng dần qua đi những tuyên ngôn, tuyên bố, mà vấn đề thiết cốt là cần đi sâu vào những nghiên cứu có tính chất học thuật, có giá trị khoa học, tìm tòi những hướng tiếp cận mới, nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển đa dạng của thực tiễn sáng tác và thành tựu nghệ thuật. Đứng về mặt tổ chức văn học, người ta thường hình dung thế chân vạc hỗ trợ cho nhau trong suốt những năm đầu của thời kỳ đổi mới là Ban Văn hóa văn nghệ Trung ương – Đảng đoàn và báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam – Viện Văn học. Vì vậy, không chỉ có báo Văn nghệ, mà còn nhiều báo và tạp chí khác như Nhà văn, Văn học nước ngoài, Khoa học xã hội, Văn hóa nghệ thuật, Lý luân, phê bình văn học nghệ thuật, Kiến thức ngày nay, Văn, Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Sông Hương, Đất Quảng, Cửa Việt, Nha Trang,…. trong đó có tạp chí Văn học, đã đăng tải nhiều bài nghiên cứu có giá trị học thuật của nhiều học giả trong cả nước, không chỉ định hướng vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, mà còn định hình diện mạo của một nền lý luận phê bình được chuyển đổi hệ hình từ tiền hiện đại còn rơi rớt lại tiếp cận chủ yếu từ tác giả, chuyển sang hiện đại tiếp cận chủ yếu từ văn bản tác phẩm, đến hậu hiện đại tiếp cận chủ yếu từ người đọc. Đổi mới trước hết ở phương pháp tư duy, nhằm thay đổi hệ chuẩn, “từ phê bình xã hội học sang phê bình thẩm mỹ, từ phê bình sự thật chuyển sang phê bình giá trị” 9, từ mục tiêu đi tìm nội dung hiện thực sang tìm giá trị hình thức nghệ thuật. Và, chính điều ấy, mới có thể phân biệt được giá trị đích thực làm nên đặc trưng của từng loại hình, loại thể. Những gương mặt tiêu biêu trên các diễn đàn thông tin đại chúng về đổi mới lý luận phê bình có hai nhóm cơ bản. Một là, những cây đã thành danh một thời với kiểu tư duy cũ, do tiếp cận được nhiều thành tựu của thế giới, tự phá vỡ tư duy cũ, chuyển sang kiểu tư duy mới theo xu thế tất yếu của thời đại như Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Phan Ngọc, Hoàng Trinh, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi, Phương Lựu, Ngô Thảo, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn…; hai là, những cây bút mới, được đào tạo từ nước ngoài về, hoặc bằng nổ lực tự học, tiếp thu được những thành tựu mới từ các trào lưu của thế giới, tạo nên luồng gió mới thổi tung những ao tù nước đọng, đưa lý luận phê bình trở về với những chân giá trị đích thực của nó như Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử, Đỗ Lai Thúy, Trương Đăng Dung, Huỳnh Như Phương, Lộc Phương Thủy, Trịnh Bá Đỉnh, Nguyễn Văn Dân, La Khắc Hòa, Phạm Xuân Nguyên, Hồ Thế Hà, Lê Huy Bắc…Đó cũng chính là lực lượng nòng cốt, tiêu biểu cho đội ngũ lý luận phê bình thời kỳ đổi mới, tác giả của những công trình nghiên cứu biên soạn công phu và cả những tác phẩm dịch thuật, chuyển ngữ từ những công trình của các tác giả tiêu biểu cho các trào lưu mới ở nước ngoài, giới thiệu với học giới và công chúng nước ta. Những công trình lý luận biên soạn công phu và có tính chuyên sâu, tiêu biểu như Ký hiệu, nghĩa và phê bình văn học 1979 và Từ ký hiệu học đến thi pháp học 1992 của Hoàng Trinh, Phương pháp luận nghiên cứu văn học 1989 của Hoàng Ngọc Hiến, Một số vấn đề thi pháp học hiện đại 1993 và Dẫn luận thi pháp học1998 của Trần Đình Sử, Từ văn bản đến tác phẩm 1998 và Tác phẩm văn học như một quá trình 2004 của Trương Đăng Dung, Thi pháp hiện đại 2001 của Đỗ Đức Hiểu, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học 2002 của Trịnh Bá Đỉnh, Nghệ thuật như là thủ pháp 2002 và Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy 2010 của Đỗ Lai Thúy, Phương pháp luận nghiên cứu văn học 2004 của Nguyễn Văn Dân, Trường phái hình thức Nga 2007 của Huỳnh Như Phương, Lý thuyết văn học hậu hiện đại 2011 của Phương Lựu, Văn học hậu hiện đại-lý thuyết và tiếp nhận 2012 của Lê Huy Bắc, Xã hội học văn học 2014 của Lộc Phương Thủy, Nguyễn Phương Ngọc và Phùng Ngọc Kiên … Bên cạnh nhiều công trình nghiên cứu phê bình, vận dụng nhiều phương pháp mới, tiếp cận dưới nhiều góc độ mới, đã đem lại nhiều thành tựu hết sức quan trọng, thể hiện một quan niệm cỡi mở về tính chất đồng đại của phê bình văn học, là nhằm vào đời sống văn học đang vận động, là “mỹ học đang vận động” và cả việc nhận thức/ sáng tạo lại những thành tựu văn học trong quá khứ Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều 1985 của Phan Ngọc, Thi pháp thơ Tố Hữu 1987 và Thi pháp Truyện Kiều 2002 của Trần Đình Sử, Đổi mới phê bình văn học 1993 và Đổi mới đọc và bình văn 1999 của Đỗ Đức Hiểu, Mắt thơ 1992 Bút pháp của ham muốn 1909 và Thơ la mỹ học của cái Khác 1912 của Đỗ Lai Thúy,… Khu vực phát triển mạnh mẽ, có tính chất bùng nổ với tất cả sự bung phá cường tráng cả về tư tưởng và hành động thực tiễn là những công trình dịch thuật giới thiệu các thành tựu trên thế giới, theo tinh thần đổi mới và hiện đại hóa. Và, chính điều này làm cho đội ngũ dịch thuật ngày càng đông đảo, đến từ nhiều nguồn khác nhau, chất lượng khoa học thuật ngày càng được nâng cao Phan Ngọc, Nguyễn Trung Đức, Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn, Phạm Vĩnh Cư, Nguyên Ngọc, Phạm Xuân Nguyên Ngân Xuyên, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Trần Ngọc Vương, Lộc Phương Thủy, Lã Nguyên, Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thu Thủy, Trần Huyền Sâm… Các công trình tiêu biểu, tác động quan trọng đến tiến trình đổi mới của lý luận phê bình văn học như Dẫn luận nghiên cứu văn học 1985, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nguyễn Nghĩa Trọng dịch của luận và thi pháp tiểu thuyết 1992, Phạm Vĩnh Cư dịch và Những vấn đề thi pháp Dostoievski 1993, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch của Văn tâm điêu long 1996, Phan Ngọc dịch của Lưu Hiệp, Thơ văn và tiểu luận 1998, Nguyễn Trung Đức dịch của Octavio Paz, Văn học là gì ? 1999, Nguyên Ngọc dịch của Thi pháp tiểu thuyết 2001, Nguyên Ngọc dịch của Cấu trúc văn bản nghệ thuật 2002, Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đỉnh, Nguyễn Thu Thủy dịch của Hoàn cảnh hậu hiện đại 2007, Ngân Xuyên dịch của Logic học về các thể loại văn học 2004, Vũ Hoàng Địch, Trần Ngọc Vương dịch của Kate Hamburger, Bản mệnh của lý thuyết 2006, Lê Hồng Sam, Đặng Anh Đào dịch, Lý luận phê bình văn học thế giới thế kỷ XX 2007, nhiều người dịch, Lộc Phương Thủy chủ biên, Lý luận văn học 2009, Nguyễn Mạnh Cường dịch của René Wellek và Austin Warren, Văn học và cái Ác 2013, Ngân Xuyên dịch của Văn chương lâm nguy 2013, Trần Huyền Sâm, Đan Thanh dịch của Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại 2013, Lê Nguyên Cẩn dịch của …thật khó mà thống kê một cách đầy đủ hàng trăm công trình lý luận phê bình đã được chuyển ngữ và công bố trong ba mươi năm đổi mới. Có thể nói, một thế giới phẳng trong quá trình chuyển động và du nhập những thành tựu của khoa học về văn học của các nước đến với chúng ta. Trên thế giới có cái gì, lập tức chỉ trong một thời gian ngắn, chúng ta có cái đó, trong đó có cả những cái mà thế giới đã đi qua/ đào thải, cũng có thể xuất hiện ở Việt Nam, trong tâm thế cũ người mới ta. Đổi mới còn đồng nghĩa với việc hội nhập và tiếp nhận những thành tựu mới của thế giới, dung nạp nhiều trào lưu, nhiều trường phái, nhiều hệ thống quan niệm, nhằm tạo nên một khung tri thức mới, đó là con đường tất yếu của xu thế phát triển thời đại. Bởi lẽ, “ở Việt Nam, từ khi đổi mới và hội nhập với thế giới, lý luận văn học và mỹ học mác xít tuy vẫn được xác định là cơ sở lý luận nền tảng, nhưng không còn giữ vị trí độc tôn, duy nhất đúng như nhiều chục năm hậu bán thế kỷ XX nữa” 10. Các trào lưu hiện đại không chỉ được giới thiệu ở cấp độ lý thuyết mà còn thể hiện trong thực tiễn hoạt động nghiên cứu lý luận phê bình, quan trọng hơn, điều này có ý nghĩa quyết định cho thành tựu văn hóa là “lý thuyết nước ngoài đi vào đầu người nghiên cứu thông qua bộ lọc của họ, được đào luyện thành quan niệm của họ rồi từ đó mới có sự vận dụng vào thực tế” Trần Đình Sử. Ngoài “cơ sở lý luận nền tảng”mác xít, các hệ thống quan niệm được tiếp nhận và vận dụng vào thực tiễn như ký hiệu học, thi pháp học, phong cách học, phân tâm học, tự sự học, thông diễn học, trường phái hình thưc Nga, hình thái học sáng tạo nghệ thuật, xã hội học – lịch sử nghệ thuật, ngôn ngữ học cấu trúc, văn học so sánh, lý thuyết diễn ngôn, chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc, mỹ học tiếp nhận, chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại, lý thuyết tân duy sử, hiện tượng học hiện sinh, phân tâm học giải cấu…Mỗi trường phái, mỗi hệ thống quan niệm lại còn nhiều cành nhánh, nhiều đường phân giải khác nhau, tất nhiên, sẽ đem lại kết quả khác nhau về cả giá trị thẩm mỹ và học thuật. Ví như, cùng là lý thuyết phân tâm học, nhằm phân tích một hiện tượng là thơ Hồ Xuân Hương, thì Nguyễn Văn Hanh vận dụng phân tâm ẩn ức tính dục của Đỗ Long Vân vận dụng phân tâm học vật liệu của Bachelard, Đỗ Lai Thúy lại vận dụng lý thuyết vô thức tập thể và cổ mẫu của lại lý luận phê bình thời kỳ đổi mới ba mươi năm qua, có thể dễ nhận ra nhiều tác giả đã vượt qua mọi rào cản cả nội quan và ngoại quan, tìm đường tiếp cận các giá trị văn học một cách hiệu quả nhất, trong đó theo quan sát của chúng tôi, có ba mũi đột phá nổi bật là Đỗ Lai Thúy, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung. Là một người “ngoại đạo” tốt nghiệp ngoại ngữ, ngót nghét đến tuổi bốn mươi Đỗ Lai Thúy mới đến với văn chương, và đã qua không ít lần ướm thử, ông đã chọn phân tâm học làm chìa khóa để khai thông thế bế tắc trong việc tiếp cận thế giới nghệ thuật những tác giả văn học trung đại như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Dương Khuê, Phạm Thái, Bà Huyện Thanh Quan, sáng tạo/ nhận thức lại các tác giả thơ mới hoặc khám phá những bí ẩn độc đáo của những nhà cách tân thơ Việt như Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Đình Thi, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Bùi Giáng…Mỗi trường hợp, ông chọn một lý thuyết/ phương pháp mà theo ông là cách đọc khác nhau phù hợp với từng đối tượng. Chẳng hạn, với Cung oán ngâm khúc, ông vận dụng khái niệm bóng âm trong lý thuyết của để phân tích hình tượng tác giả /cung nữ/ khúc ngâm đối thoại với bóng. Với thơ Hồ Xuân Hương, ông vận dụng lý thuyết vô thức tập thể và cổ mẫu cũng chính của để tìm hiểu các biểu tượng văn hóa phồn thực và phát hiện thơ của nữ sĩ họ Hồ là sự hoài niệm phồn thực. Với thơ Bà Huyện Thanh Quan, ông lại sử dụng khái niệm bản năng chết của để phân tích hiện tượng trùng lặp các từ Hán Việt, kết hợp với lý thuyết xác suất thống kê để tìm tần số xuất hiện các từ chỉ hoàng hôn, buổi chiều, mùa thu mang theo nỗi buồn. Gần ba mươi năm cắm cúi trên con đường văn chương, Đỗ Lai Thúy đã có gần hai mươi đầu sách phê bình, biên soạn và hơn mười công trình tổ chức dịch thuật, biên tập và giới thiệu, trong đó ngoài công trình có tính chất lý luận nền tảng như Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy 2010, còn có các công trình phê bình thơ mới như Mắt thơ 1992, Thơ như là mỹ học của cái Khác 2012, tập phê bình phân tâm học Bút pháp của ham muốn 2009, và hàng loạt công trình biên khảo về phân tâm học như Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật 2000, Phân tâm học và văn hóa tâm linh 2002, Phân tâm học và tình yêu 2003, Phân tâm học và tính cách dân tộc 2007, có thể khẳng định Đỗ Lai Thúy là người thổi hồn vào phân tâm học từ nhiều góc độ khác nhau, người vận dụng thành công nhất lý thuyết phân tâm học vào phê bình văn học Việt Nam, đi tắt ngang từ hiện đại văn bản quành đến hậu hiện đại người đọc và có thể gọi ông là nhà phân tâm học của Việt Nam. Trần Đình Sử được coi là người xây dựng nền tảng cho thi pháp học ở Việt Nam, với hệ thống lý thuyết Một số vấn đề thi pháp học hiện đại 1993, Dẫn luận thi pháp học 1998, ông đã vận dụng thành công vào việc giải mã nghệ thuật trong ba công trình Thi pháp thơ Tố Hữu 1987, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam 1998 và Thi pháp Truyện Kiều 2002. Điều cốt lõi ở Trần Đình Sử là đã phát hiện ra tinh thần mới của hình thức nghệ thuật, theo ông là “hình thức mang tính quan niệm”, là căn cứ/ đối tượng nghiên cứu, khác hình thức mang tính qui phạm của thi pháp cổ điển, khác với “cái biểu đạt” của chủ nghĩa hình thức và cũng khác với “hình thức thống nhất với nội dung” trong quan niệm mác xít. Hình thức của ông là một mô hình thế giới nghệ thuật được kiến tạo bằng ngôn từ, là hình thái tồn tại của nội dung. Chính vì lẽ đó, ở nước ta, ông là người tiên phong trong việc khắc phục việc chia tách nội dung với hình thức trong việc phân tích văn bản tác phẩm nghệ thuật. Tinh thần hiện đại của thi pháp học Trần Đình Sử có cội nguồn từ hình thái học sáng tạo nghệ thuật của trường phái hình thức và mỹ học mác xít phi truyền thống Nga nhóm Bakhtin…, đã được ông “tái cơ cấu” thành một hệ thống khái niệm hữu nghiệm, thậm chí có thể nâng lên thành những phạm trù như “thế giới nghệ thuật”, “quan niệm nghệ thuật về con người”, “hình tượng tác giả”, “thể tài văn học”, …ứng với những thao tác luận, có tính khả thi trong việc nắm bắt những lớp sóng ngôn từ và hệ thống phương thức phương tiện và đối tượng nghệ thuật. Trẻ hơn, Trương Đăng Dung được coi là “nhà lý luận thuần túy” Đỗ Lai Thúy, theo cái nghĩa là người nghiên cứu khoa học cơ bản, coi những vấn đề lý thuyết trừu tượng là “đối tượng và trình bày cho độc giả”, chứ không vận dụng vào phân tích những hiện tượng, tác giả, tác phẩm cụ thể. Có chăng, anh còn xuất hiện với tư cách nhà thơ, người vận dụng quan niệm mới về văn học của mình vào trong sáng tạo thơ ca. Nếu Trần Đình Sử là nhà lý luận hiện đại, Đỗ Lai Thúy vắt ngang từ hiện đại qua hậu hiện đại, thì Trương Đăng Dung là nhà lý thuyết hậu hiện đại, đó chính là lý thuyết tiếp nhận văn học. Hai công trình Từ văn bản đến tác phẩm 1998 và Tác phẩm văn học như là quá trình 2004 như một chỉnh thể liên hoàn trình bày một cách hệ thống những nguyên tắc nhằm thẩm định giá trị tác phẩm qua cái nhìn của người đọc. Trên cơ sở những gợi mở từ lý thuyết mỹ học phi truyền thống của ký hiệu học của …Trương Đăng Dung đã trình bày một cách có hệ thống về vai trò của người đọc trong việc hình thành và tồn tại tác phẩm văn học. Chu trình đời sống văn học trước đây hiện thực-tác giả-tác phẩm-người đọc, tỏ ra không trụ vững dưới con mắt của độc giả. Vì tác giả không thể tạo ra được tác phẩm khi không có người đọc. Cái tác giả tạo ra chỉ là văn bản, văn bản đó đi vào người đọc và chính người đọc mới tạo ra tác phẩm đích thực. Người đọc là trung tâm của đời sống văn học, nên chu trình đó phải được thể hiện lại như sau hiện thực-tác giả-văn bản-người đọc-tác phẩm. Một hệ thống mới, chỉ có thể ra đời trên một tư duy mới và khát vọng cháy bỏng của người sản sinh ra nó. Theo Đỗ Lai Thúy, Trương Đăng Dung còn là người từng “bày tỏ khát vọng góp phần xây dựng một lý luận văn học như là mỹ học văn học. Quả thực, lâu nay chúng ta chỉ có một thứ mỹ học đại cương dùng chung cho tất cả các nghệ thuật nên có nhiều điểm bất cập. Văn học, với tư cách là nghệ thuật ngôn từ, cần phải có mỹ học của nó và cho nó …. Từ nhiều năm nay, Trương Đăng Dung đã kiên trì làm việc theo định hướng đó” 11, Không chỉ có ba người. Còn có thể quan sát nhiều chân dung đã và đang miệt mài làm thay đổi và định hình cho một diện mạo mới của lý luận phê bình văn học nước nhà. Nhưng quan trọng hơn, cả ba tuy tuổi tác và hành trạng cuộc đời có thể chênh nhau, nhưng họ đều là sản phẩm của thời kỳ đổi mới. 3. Bản thân tư duy luôn hàm chưa bên trong sự thay đổi, nên sẽ không có sự đổi mới tư duy. Vì thế, đổi mới không có nghĩa là đảo ngược, mà là làm thay đổi nếp nghĩ lâu nay luôn vận động theo quán tính, theo đường ray đã có sẵn, nay phải vận động theo cái nhìn/ tầm nhìn mới, theo một hệ hình/ hệ chuẩn mới, trong không khí dân chủ/ công bằng hơn, phù hợp với xu thế tất yếu của thời đại. Trên tinh thần ấy, nhìn lại lý luận phê bình văn học ba mươi năm đổi mới, cần phải khẳng định những thành tựu lớn lao cả về đội ngũ tác giả và tác phẩm, về sự phong phú, đa dạng về mọi khía cạnh, nhất là trên tinh thần hết sức dân chủ, cỡi mở và nhiệt tâm. Có lẽ, cần có một cái nhìn tổng kết ở một công trình có qui mô lớn hơn, chứ không chỉ ở sự quan sát chủ quan của một bài viết ngắn. Nhưng cũng chính ở một một góc nhìn chủ quan, cũng có thể nhận ra bao nhiêu điều bất cập, làm giảm vận tốc phát triển và ít nhiều thay đổi cách nhìn, tạo ra sự nghi ngại cho tiến trình đổi mới, nhất là vào những năm chín mươi của thế kỷ trước, khi ngọn gió đổi mới ào ạt thổi qua đi. Bất kỳ việc gì trong đời sống, hể cứ đi đến quá đà thường đi vào hạn chế, không theo chiều hướng này, thì cũng theo chiều hướng ngược lại. Có phải vì thế hay không, mà chỉ khoảng hơn một năm sau đổi mới, Trưởng ban Văn hóa văn nghệ Trung ương Trần Độ và Phó ban Nguyễn Văn Hạnh mất chức, được tái bổ nhiệm rồi lại bị cách chức. Tổng biên tập báo Văn nghệ Nguyên Ngọc, Viện trưởng Viện Văn học Phong Lê, và ngay cả Tổng biên tập tạp chí Sông Hương Nguyễn Khắc Phê, rồi Tô Nhuận Vỹ đều bị cách chức với những lý do không được rõ ràng, chắc chắn là ít nhiều làm ảnh hưởng đến tinh thần đổi mới… Chúng ta kỳ vọng gì khi đang bước tiếp trên con đường đổi mới ? Suy cho cùng, tâm huyết của học giới nước ta luôn có khát vọng xây một nền lý luận phê bình văn học hiện đại của Việt Nam. Theo Trần Đình Sử, có thể tiếp nhận mọi tinh hoa của nhân loại, để xây dựng nền lý luận phê bình của riêng đất nước mình. Mỗi người có thể tiếp thu một hay nhiều hệ thống lý thuyết khác nhau và được “cải biên trong bộ não” Lénine của mình và tái tạo nên một hệ thống lý thuyết mới của riêng mình “Ví dụ ông Thiếu Sơn mở đầu lối “nghiên cứu nhân vật”, theo ông là mọi nhân vật, không đóng khung vào nhà văn học. Quan niệm ấy là của riêng ông. Hoài Thanh phê bình thơ mới theo lối “lấy hồn tôi để hiểu hồn người” là cách của ông ấy không thể đồng nhất với phê bình ấn tượng như là một cuộc phiêu lưu vào tác phẩm của người khác. Ông Hoài Thanh không hề phiêu lưu. Lý thuyết của Trương Tửu là sản phẩm của quan niệm của ông ấy, không thể giản đơn qui về lý thuyết của hay của Freud, hay của chủ nghĩa Mác …. Ta có thể thấy ông Đỗ Đức Hiểu nói về lý thuyết thi pháp trong công trình của ông ấy, nhưng liệu có thể xác định ông ấy vận dụng lý thuyết thi pháp của ông nào, bà nào cụ thể ở phương Tây được không ? Trong quá trình làm việc ông ấy đọc ông này bà kia, thấy có những điểm tâm đắc ông đem tổng hợp lại, kiến tạo thành diễn ngôn của ông ấy rồi đem vào thực tiễn phê bình của mình. Cho nên lý thuyết thi pháp của Đỗ Đức Hiểu là của ông ấy, không phải vận dụng của một ai hết cả. Thực tế này bác bỏ cái quan niệm cho rằng sở dĩ nghiên cứu văn học của ta chưa sâu chưa cao là do ta chưa học đến nơi đến chốn, chưa nắm đầy đủ hệ thống lý thuyết của nước ngoài để vận dụng” 12, Chính Trần Đình Sử chứ không phải ai khác, đã xây dựng hệ thống lý thuyết của mình trên cơ sở tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, như La Khắc Hòa đã khách quan chỉ ra “Sẽ khó có thi pháp học của Trần Đình Sử nếu không có thi pháp học của trường phái hình thức Nga, của trường phái hay trường phái Tartu-Moskva. Nhưng Trần Đình Sử không mô phỏng, bắt chước bất kỳ ai trong số họ. Ông tiếp thu các lý thuyết hiện đại, biến chúng thành tri thức, sử dụng chúng như công cụ khám phá chất liệu là văn học dân tộc để sáng tạo ra thi pháp học mang hồn vía của riêng mình” 13, Muốn tiếp tục phát triển nền lý luận phê bình trên tinh thần đổi mới, trên nền tảng di sản triết học và mỹ học kinh điển chủ nghĩa Mác, cần kiện toàn hệ thống lý thuyết về các vấn đề liên quan đến đặc trưng và thi pháp nghệ thuật, tiếp thu tinh hoa của nhân loại trên tinh thần đối thoại, song song với việc xây dựng một đội ngũ, tạo điều kiện cho họ học tập, sáng tạo tự do, để họ tự kiến tạo hệ thống của riêng mình, phương pháp của mình, đem vận dụng vào thực tế văn học mà họ tâm đắc. ______________________­ 1. Xem Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI ngày 2. Hoàng Ngọc Hiến 1979, Về một đặc điểm của nền văn học của ta trong giai đoạn vừa qua, báo Văn nghệ số 23 tháng 3. Xem Tổng mục lục tạp chí Nghiên cứu văn học, Nxb Văn học, Hà Nội 4, 13. La Khắc Hòa 2015, Tổng quan về sự tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài vào Việt Nam từ 1986 đến nay, in trong Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài-kinh nghiệm Việt Nam thời hiện đại, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội 5. Trần Đình Sử 2015, Tổng quan quá trình tiếp thu lý luận văn nghệ mác xít từ Liên Xô, Trung Quốc giai đoạn 1945-1986 trong cả nước và miền Bắc Việt Nam từ sau 1954, in trong Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài… Sđd 6, 10. Phan Trọng Thưởng 2014, “Từ thực tiễn lý luận đến yêu cầu xây dựng hệ thống lý luận văn nghệ Việt Nam”, báo Nhân dân, thứ 6, ngày 7. Trường Chinh 1987, Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời đại, Nxb Sự thật, Hà Nội 8. Đào Xuân Quý 2002, Nhớ lại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội 9, 11.Đỗ Lai Thúy 2002, Chân trời có người bay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội 12. Trần Đình Sử 2015, Vấn đề xây dựng nền lý luận văn học Việt Nam hiện đại, in trong Tiếp thu tư tưởng văn nghệ nước ngoài…Sđd Lý thuyết hậu thực dân ra đời vào khoảng đầu thập niên 1990, trước hết, từ ảnh hưởng của cuốn Orientalism của Edward W. Said, xuất bản lần đầu năm 1978 Phần tóm lược dưới đây chỉ nhằm cung cấp cho bạn đọc một tấm bản đồ’ của các lý thuyết văn học lớn trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 đến nay, chủ yếu để giúp bạn đọc dễ theo dõi các bài viết về lý thuyết và phê bình văn học đăng tải trên Tiền Vệ. Khi đọc, xin bạn đọc lưu ý cho một điểm không có một lý thuyết nào có thể được tóm lược một cách trung thành và trung thực, do đó, tấm bản đồ’ này chỉ nên được sử dụng như một cơ sở để tham khảo, từ đó, đọc thêm, hơn là để đánh giá các lý thuyết ấy. Với mục đích giới thiệu’, tôi chỉ chọn một số những lý thuyết chính và có ảnh hưởng nhất mà thôi. ó là Hình thức luận của Nga Formalism Phê Bình Mới của Anh và Mỹ New Criticism Cấu trúc luận Structuralism Hậu cấu trúc luận / Giải cấu trúc Poststructuralism/Deconstruction Các lý thuyết Mác-xít Marxist Theories Thuyết người đọc Reader Theory Phân tâm học Psychoanalysis Nữ quyền luận Feminism Thuyết lệch pha Queer Theory Chủ nghĩa hậu thực dân Postcolonialism Chủ nghĩa hậu hiện đại Postmodernism Chủ nghĩa tân duy sử New Historicism và Chủ nghĩa duy vật văn hoá Cultural Materialism Về tài liệu tham khảo, tôi chỉ ghi những tác phẩm chính, mới và dễ tìm nhất, chủ yếu bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Nguyễn Hưng Quốc ___________________ CHỦ NGHĨA HẬU THỰC DÂN Lý thuyết hậu thực dân ra đời vào khoảng đầu thập niên 1990, trước hết, từ ảnh hưởng của cuốn Orientalism của Edward W. Said, xuất bản lần đầu năm 1978, trong đó, Said giải mã quan hệ quyền lực giữa phương ông và phương Tây qua các hình thức diễn ngôn, chủ yếu qua việc sáng tạo nên khái niệm phương ông’ như một “cái Khác” Other so với phương Tây. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc hình thành lý thuyết hậu thực dân chính là sự bất lực của các lý thuyết Tây phương trong việc lý giải tính chất phức tạp trong nền văn học các nước cựu thuộc địa. Hầu hết các lý thuyết về mỹ học, thể loại cũng như phong cách ở Tây phương trước đây đều được xây dựng trên tiền đề về tính phổ quát của văn học và triết học những gì đúng và hay ở nơi này thì cũng sẽ đúng và hay ở những nơi khác. Thực chất đó là một thứ chủ nghĩa độc tôn monocentrism về văn hoá và chính trị, kết quả của chủ nghĩa đế quốc và thực dân kéo dài nhiều thế kỷ trong lịch sử. Từ giữa thế kỷ 20, khi tất cả các thuộc địa dần dần đều được giải thực, người ta nhận thấy văn học từ các xứ cựu thuộc địa có cái gì không nằm hẳn trong các quy phạm vốn phổ biến ở Tây phương. Khám phá này trở thành tự giác và có sức thuyết phục mạnh mẽ với lý thuyết về một thứ chủ nghĩa phương ông của Edward W. Said lý thuyết hậu thực dân ra đời. Cũng như hầu hết các lý thuyết đã thành trường phái khác, lý thuyết hậu thực dân, thật ra, không phải là một cái gì thống nhất hoàn toàn. Tính chất thiếu thống nhất ấy thể hiện ngay trong cách viết một số người đề nghị dùng gạch nối ngăn giữa tiền tố hậu’ và từ thực dân’ post-colonialism như một dấu mốc thời gian nhấn mạnh vào quá trình giải thực ở các quốc gia cựu thuộc địa; một số khác – hiện nay đang là số đông – chủ trương viết liền, không có gạch nối postcolonialism để nhấn mạnh vào những hậu quả kéo dài đến tận ngày nay của chủ nghĩa thực dân. Ngoài sự khác biệt về thời gian, các lý thuyết gia cũng không đồng ý với nhau về không gian mà lý thuyết hậu thực dân bao trùm. Với một số học giả, cái gọi là văn học hậu thực dân chỉ giới hạn trong những tác phẩm được viết ra ở các quốc gia thuộc địa và trong thời gian thuộc địa; còn tác phẩm được các cây bút thực dân viết ra thì được xếp vào một phạm trù khác, mệnh danh là Diễn ngôn thực dân học’ Colonial Discourse Studies. Một số khác, đông hơn, quan niệm lý thuyết hậu thực dân bao trùm toàn bộ mọi nền văn hoá chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc từ thời bành trướng của thực dân cho đến tận ngày nay. Nghĩa là, không phải chỉ có nền văn hoá các nước thuộc địa mà cả văn hoá các quốc gia đi chinh phục và bóc lột các nước khác cũng nằm trong quỹ đạo của các ảnh hưởng ấy. Bởi vậy, trong phạm vi văn học, đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hậu thực dân gồm hai nhóm chính một, các nhà văn và nhà thơ thuộc các quốc gia thực dân khi họ tiếp cận với các đề tài liên quan đến thực dân và thuộc địa; và hai, quan trọng nhất, những cây bút sống trong các thuộc địa, trong đó, có một số thuộc địa được hình thành chủ yếu từ những người di dân đến từ mẫu quốc như Úc, Tân Tây Lan, Canada và, trong chừng mực nào đó, có thể kể cả Mỹ, còn lại, các thuộc địa gồm tuyệt đại đa số là dân bản xứ, tức thuần là dân bị trị, như hầu hết các quốc gia Phi châu, các quốc gia vùng Caribbean, vùng đảo Nam Thái Bình Dương, Pakistan, Scri Lanka, Malaysia, Singapore, Bangladesh… và, dĩ nhiên, Việt Nam. Với nhóm trên, các nhà phê bình thuộc thuyết hậu thực dân tìm cách phân tích quá trình bóp méo kinh nghiệm, hiện thực và lịch sử chinh phục và bóc lột của các nhà văn, nhà thơ thực dân. Với nhóm dưới, họ tìm cách nhận diện những nỗ lực viết lại lịch sử và tái tạo bản sắc của các dân tộc thuộc địa qua văn học. Vấn đề trung tâm của các nền văn hoá và văn học hậu thực dân là quan niệm về cái khác’ otherness. Cái khác’ khác với sự khác biệt difference vì cái khác’ bao gồm cả sự khác biệt lẫn bản sắc cái khác’, tự nó, là một bản sắc và bản sắc ấy được hình thành chủ yếu trên sự phân biệt với những bản sắc khác đang chiếm giữ vị trí trung tâm. Nó là một thứ con rơi vừa được sinh ra vừa bị từ bỏ. Nó được tạo lập từ bảng giá trị mà nó luôn luôn tìm cách phủ nhận nếu thực dân là trật tự, văn minh, duy lý, hùng mạnh, đẹp đẽ và tốt lành thì thuộc địa lại là hỗn loạn, mông muội, cảm tính, yếu ớt, xấu xí và xấu xa. Sự phủ nhận ấy được thực hiện ở thế yếu, do đó, không bao giờ thực sự triệt để. Tính chất phân vân ấy làm cho người thuộc địa không những là những cái khác’ so với thực dân mà còn là những cái khác’ so với chính quá khứ của họ. Bởi vậy, dân tộc thuộc địa nào cũng, một mặt, ngưỡng vọng quá khứ, mặt khác, họ lại thấy rất rõ trong quá khứ ấy có vô số khuyết điểm cần được khắc phục. Hậu quả là quá khứ chỉ được khôi phục từng mảnh; và với những mảnh vụn ấy, người ta không thể tái tạo được cả lịch sử người dân thuộc địa, do đó, có thể nói là có rất nhiều quá khứ nhưng lại không có lịch sử. Bên cạnh ý niệm về cái khác’ là tính chất đề kháng. Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính chất đề kháng của các dân tộc thuộc địa là sự ra đời của chủ nghĩa quốc gia. Nằm ở trung tâm của chủ nghĩa quốc gia là ý niệm về bản sắc dân tộc. Trong nỗ lực xây dựng bản sắc dân tộc, các dân tộc thuộc địa thường loay hoay giữa sức đề kháng trước áp lực của văn hoá thực dân và những quyến rũ của tính hiện đại vốn gắn liền với nền văn hoá ấy, giữa hiện thực bản xứ và bảng giá trị xem chừng có tính sang cả và phổ quát ở Tây phương. Có thể xem thế áp đảo của các bảng giá trị này là một trong những chiến thắng lớn lao nhất của chủ nghĩa thực dân nó biến khái niệm Tây phương từ một thực thể địa lý thành một phạm trù tâm lý để với nó, người ta sẽ thấy phương Tây ở mọi nơi, thành cả thế giới văn minh, hơn nữa, thành mẫu mực của văn minh. Những tên tuổi tiêu biểu nhất của văn học hậu thực dân trên thế giới, về phương diện sáng tác, có Chinua Achebe, Marguerite Duras, Nadine Gordimer, Jamiaca Kincaid, V. S. Naipaul, Ngugi Wa Thiong’o, Michael Ondaatje, Salman Rushdie, Leopold Senghor, về phương diện lý thuyết, có Homi Bhabha, Frantz Fanon, Edward Said, Gayatri Chakravorty Spivak… và, đặc biệt, một người Việt Nam Trịnh Thị Minh Hà. Tài liệu tham khảo thêm Postcolonialism, a Very Short Introduction của Robert J. C. Young 2003, Oxford Oxford University Press; Postcolonial Theory A Critical Introduction của Leela Gandhi, St Leonards NSW, Australia Allen & Unwin; Culture and Imperialism của Edward W. Said 1993, London Vintage. Nguồn 1. PHÊ BÌNH MỚI ANH MỸ NEW CRITICISM IN ENGLAND &AMERICA Phê bình Mới Anh Mỹ là gì?- Là một trường phái phê bình có vai trò hàng đầu trong môi trường học thuật ở Anh Mỹ từ những năm 20 đến những năm 60 của thế kỷ Tập trung khám phá văn bản trên mối quan hệ hữu cơ giữa hình thức và ý nghĩa, không coi trọng các yếu tố nằm ngoài văn biệt chú ý thể loại thơ trên thành tựu tu từ học, thi pháp học, ngôn ngữ Xác lập những phương pháp Đọc kỹ Close -Reading.-Khái niệm Phê bình mới xuất hiện từ một bài giảng của Joel Elias Spingarn The New Criticism A Lecture Delivered at Columbia University, 9 - 3 -1910 và tên cuốn sách New Criticism của John Crowe Ransom năm Các thuật ngữ chính Key terms- Hàm hồ Ambiguity- Nghịch lý Paradox- Chủ đề Theme- Cốt truyện Plot- Tính trớ trêu Irony độ chênh giữa điều được nói và điều được ám chỉ, giữa nghĩa đen và nghĩa Độ căng Tension- Điểm nhìn Point of view- Dạng mẫu âm thanh patterns of sound- Cấu trúc tự sự narrative structure- Văn bản dị ngữ heteroglossic- Phép chuyển nghĩa [trope]- Các biện pháp tu từ hình ảnh image, ẩn dụ metaphor, biểu tượng symbol, nhịp điệu rhythm …- Lầm lẫn về ý định Intentional Fallacy đánh đồng bài thơ với ý đồ của tác giả. - Lầm lẫn về cảm thụ Affective Fallacy nhầm lẫn ý nghĩa của văn bản với tác động cảm xúc của nó lên độc Dị biệt về diễn giải Heresy of Paraphrase khi giải thích một bài thơ, việc tóm tắt chi tiết hoặc diễn xuôi thường làm sai lệch văn Đọc kỹ Đọc gần, Đọc tỉ mỉ Close -Reading /Micro – lecture Đọc tập trung một văn bản, phân tích, lý giải hình thức của văn bản trong mối quan hệ với ý 3. Phương pháp Đi tìm mối quan hệ giữa tư tưởng của văn bản và hình thức của cấp của Đọc kỹ Đọc kỹ có bốn cấp- Cấp 1 Đọc từ vựng và ngữ pháp chú ý các khía cạnh của từ vựng, ngữ pháp và cú pháp, con số của bài diễn văn hay bất kỳ tính năng khác đóng góp cho phong cách cá nhân của nhà tả hiện Cấp 2 Đọc ngữ nghĩa khảo sát về ý nghĩa các từ những thông tin mà bài thơ mang thức về ý Cấp 3 Đọc kết cấu Khảo sát các mối quan hệ giữa các từ và các ý nghĩa trong văn tích kiểm tra, sàng lọc, đánh giá- Cấp 4 Đọc văn hóa Khảo sát mối quan hệ của các yếu tố bất kỳ của văn bản với những yếu tố bên ngoài nó văn bản khác của cùng tác giả, hoặc những bài viết khác của cùng loại của các nhà văn khác nhau; các yếu tố của lịch sử xã hội, văn hóa, triết học, tâm lý giải1. Các bước của Đọc kỹ- Khởi đầu đọc vài lần văn bản nắm nghĩa chung. Lập danh sách các yếu tố khảo sát. Với bút chì và văn bản đánh dấu các yếu tố cần chú Xác định nghĩa của từ, nắm bắt những từ khác lạ, từ khóa. Phân tích mối quan hệ của các từ trong câu lặp, tương đồng, đối nghịch. Lý giải sự lựa chọn của tác giả về các từ có tính cá nhân thế nào? tại sao?- Khảo sát cấu trúc văn bản triển khai thế nào ý tưởng, kết cấu- Khảo sát âm thanh và nhịp điệu các yếu tố này tác động đến ý nghĩa thế nào? Có thể dùng các khái niệm thi pháp học và tu từ học để phân tích. Khảo sát các hình thái diễn ngôn so sánh, ẩn dụ, hình ảnh, biểu Khảo sát câu các loại câu, trật tự của câu, nhịp điệu của câu. Chú ý khoảng lặng, độ ngưng, các nghịch đảo, song song, lặp lại... Phân tích các yếu tố làm nên tính mơ hồ, đa Khảo sát văn cảnh Phân tích- Khảo sát tính chất trớ trêu của văn bản- Khảo sát giọng điệu của nhân vật, người tường thuật, tác giả quan hệ giữa các yếu tố đó kiến thức tự sự học. Phân tích giọng điệu, phong cách. Tìm ra sự lựa chọn của tác giả trong sự kết hợp của tất cả các yếu tố nói trên để tạo ra một văn bản độc Khảo sát các biện pháp tu từ đã sử dụng ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, hình tượng, biểu tượng…- Khảo sát chủ đề Phát hiện hệ thống chủ đề- Phát hiện giới tính của văn bản- Xác định cốt truyện- Xác lập một đề tài để viết về văn bản, chọn chìa khóa để mở cánh cửa vào câu hỏi thường gặp với người đọc Phê bình Mới-Tính hàm hồ của ngôn ngữ? Kết cấu ngôn ngữ? Các tiềm năng liên tưởng của ngôn ngữ văn chương?- Các thủ pháp văn chương đặc thù? Hàm ý của các thủ pháp này?- Phép điệp, phép so sánh, phép liệt kê, phép chơi chữ?phép chuyển nghĩa [trope]? Phép gián cách hay tạo cự ly? Các mệnh đề song song? Các nhịp điệu, vần?- Các nghịch lý về ý nghĩa và từ ngữ?-Những mỉa mai? mâu thuẫn?- Hiệu ứng của hình thức?- Các hình thức bất thường của câu?- Những mù mờ confusion về quy chiếu?- Những chuyển động trong văn bản?- Hệ thống hình tượng? Hệ thống ẩn dụ? Hệ thống biểu tượng?- Các thiết kế tự sự? Câu chuyện được kể ra như thế nào?- Mạch văn bản? Tuyến trần thuật?-Tác phẩm bắt đầu từ đâu? kết thúc thế nào?- Cách quan sát và miêu tả ?- Quan hệ giữa chủ thể và đối tượng?- Hành trình ý thức? khách quan? chủ quan?- Hiệu ứng lạ hóa? Có sự phá vỡ “tầm đón đợi” không?- Các chủ đề được phát ngôn như thế nào? Chủ đề then chốt của tác phẩm nằm ở đâu? Độ căng của chủ đề?- Các môtip giới thiệu trực tiếp/ gián tiếp- Vai trò giải trung tâm của nhân vật?- Các cuộc đối thoại có những ý nghĩa gì?- Các loại ý nghĩa? Nghĩa thông thường/ nghĩa hiển ngôn/ nghĩa đặc thù/ nghĩa tiềm ẩn nghĩa riêng?-Ý nghĩa xã hội khác nhau trong nhân vật? Giải mã những suy nghĩ của nhân vật?- Kỹ thuật xây dựng vở kịch? Diễn tiến của kịch? Hậu trường của cuộc đối thoại? Các ý định bị che giấu?-Văn bản có tập hợp ở trong mình nhiều dạng thức ngôn ngữ không? Văn bản dị ngữ -heteroglossic- Phong cách ngôn ngữ của nhân vật riêng/ chung?- Sắc thái diễn ngôn? uy quyền? mềm mỏng? biến hóa? đơn nghĩa và độc thoại- Có trích dẫn hoặc phong cách hóa và quy chuẩn hóa một diễn ngôn khác không? Ý nghĩa của việc đối thoại hóa dialogization? Những động thái đối thoại hóa?-Những từ ngữ hay hình ảnh đặc thù được dùng để thể hiện các ý nghĩa phổ quát?-Ngôn ngữ và ý nghĩa, tinh thần và vật chất, nội dung và hình thức, cái đặc thù và cái phổ quát… tương hợp, dung hòa với nhau như thế nào?-Có hòa giải thành công giữa những điều trái ngược? “Hòa điệu của những xung khắc” cái phổ quát và cái đơn nhất? Các ý nghĩa phổ quát và những nét đặc thù cụ thể?...-Những hình tượng trong tương quan với vẻ ngoài?- Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên?- Tính chất của chủ thể?- Tính chất bất ổn của tri giác?- Tính nước đôi của bài thơ?- Tính chất phân mảnh thời gian, không gian, ý nghĩa…- Ký ức và trí tưởng tượng?- Các dạng ý nghĩa tôn giáo, văn hóa, chính trị… .... cầu-Tiếp cận sâu về văn bản trong khả năng cao Lập một hê thống câu hỏi chi Giữ lại tính đa nghĩa và phức tạp của văn luận Là một phương pháp thực hành, phê bình Mới Anh Mỹ chủ yếu tập trung vào mô tả, phân tích, lý giải hơn là nhận định về giá trị thẩm mỹ hay ý nghĩa cách tân của các tác phẩm văn Ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm Phê Bình Mới được giảng dạy trong hầu hết các trường đại học Mỹ, và từ Mỹ, lan rộng sang hầu hết các quốc gia nói tiếng Anh về phân tích thơ Rèn luyện kỹ năng phân tích sâu văn bản, là phương pháp trợ thủ hữu hiệu cho các phương pháp PHÊ BÌNH XÃ HỘI HỌC - Phê bình Xã hội học là gì?- Là một trường phái phê bình manh nha vào thế kỷ 19, hình thành và phát triển mạnh vào thế kỷ 20, phân nhánh và dung hợp vào thế kỷ Khi tiếp cận sự kiện văn học, tập trung khảo sát những yếu tố xã hội có mặt trong văn bản. Xác lập, miêu tả, lý giải những tương quan giữa xã hội và tác phẩm văn Đề cao lý trí, chú ý con người xã hội và xem trọng mối quan hệ nhân quả giữa xã hội và văn Khái niệm “socio-critique” được Claude Duchet khai sinh năm 1971, khi ông đề nghị một cách đọc lịch sử -xã hội về văn bản, ấy là “một thi học nghiên cứu về tính xã hội, gắn liền với một cách đọc trên góc độ hệ tư tưởng, chú ý sự đặc thù của văn bản” C. Duchet- Phê bình Xã hội học hiện đại hiện nay có ba nhánh chính 1 Xã hội học về công việc sáng tạo Lucien Goldmann 2 Xã hội học về trường văn học Pierre Bourdieu 3 Xã hội học về tiếp nhận Hans Robert Jauss. Các phương pháp chính của Phê bình Xã hội Các bước tiến hành của phê bình Xã hội học truyền thống1. Chọn văn bản2. Xác định bối cảnh ra đời của tác Tóm tắt nội dung tác Xác lập hệ thống nhân Xác định mâu thuẫn xã hội và tính giai cấp của các nhân vật trong tác Xác định tính điển hình của nhân vật. 7. Xác định tính điển hình của hoàn cảnh8. Xác định xu hướng chính trị của nhà Đi tìm giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác Các bước tiến hành của phê bình Xã hội học hiện đại 1. Chọn văn bản 2. Xác lập các cấu trúc ý nghĩa trong tác phẩm. 3. Xác lập các cấu trúc xã hội tương ứng. 4. Cắt nghĩa mối quan hệ giữa cấu trúc ý nghĩa này với cấu trúc xã hội. 5. Khảo sát sự vận động của các cấu trúc trên. 6. Phát hiện mối quan hệ giữa giữa tư tưởng tác giả và tư tưởng tác phẩm nhất quán hay có một độ chênh nhất định7. Khảo sát yếu tố chính trị trong tác phẩm văn học văn học hậu thực dân.8. Chú ý tính xã hội- lịch sử của cách Khảo sát tác động của xã hội cơ chế, chính sách với tác phẩm và tác giả xã hội học văn học.10. Khảo sát tác động của công chúng với tác phẩm và tác giả mỹ học tiếp nhận.11. Khảo sát yếu tố giới tính trong tác phẩm văn học văn học nữ quyền.2. 3. KẾT LUẬN1. PBXHH là trường phái phê bình có lưu vực rộng nhất và giòng chảy dài nhất so với những trường phái PB Nếu phê bình xã hội học truyền thống nặng tínhquy phạm và quyết định luận thì phê bình xã hội học hiện đại cởi mở hơn, đã làm mới lại lịch sử văn chương bằng một kiếm tìm mở rộng, thông thái và nhạy cảm về phương diện xã hội. Mặt khác, nhờ những tìm tòi trên thực tế văn bản mà nó tiếp cận với ký hiệu học văn học và phân tâm .PHÊ BÌNH PHÂN TÂM HỌC PSYCHO-CRITICISM Phê bình phân tâm học là gì?- Là xu hướng phê bình manh nha từ cuối thế kỷ XIX, với lý thuyết Phân tâm học Psychoanalysis của Sigmund Freud, phát triển mạnh mẽ trong nửa đầu thế kỷ XX, phân nhánh& dung hợp nửa sau thế kỷ Tiếp cận tác phẩm văn học trên các nguyên tắc về tâm lý học, cụ thể là vô thức. Với S. Freud là vô thức cá nhân, với Jung là vô thức tập Thuật ngữ phê bình Phân tâm học được khai sinh bởi Charles Mauron năm Phê bình phân tâm học là một phương pháp diễn Đối tượng của PBPTH là tâm lý của tác giả, tâm lý của nhân vật và tâm lý của độc Có hai xu hướng PBPTH cổ điển & PBPTH hiện đạiSau S. Freud, phê bình phân tâm học phát triển theo nhiều hướng1. Tập trung vào tác giả và tiểu sử tác giả Marie Bonaparte2. Kết hợp cả hai khuynh hướng, nghiên cứu chủ đề Charles Mauron, Vô thức trong tác phẩm và cuộc đời của Racine, G. Tập trung vào văn bản Jean- Bellemin Noël4. Nghiên cứu văn hóa với tâm bệnh học tộc người G. Devereux5. Kết hợp phân tâm học và Thiền E. Fromm6. Kết hợp phân tâm học và folklore V. Dundes7. Phên tâm học tập trung vào người đọc N. Holland8. Phân tâm học và cấu trúc - kí hiệu học Jacques Lacan Gợi ý về phương pháp Có nhiều hướng tiếp cận1. Nghiên cứu nhà văn như một cá thể hoặc loại hình Tiến hành phân tâm tác Nghiên cứu quá trình sáng Nghiên cứu các loại hình và phép tắc tâm lý trong tác phẩm cấu trúc tâm lý nhân vật, khám phá ý nghĩa tiến hành phân tâm nhân vật trong tác phẩm, khi đó ít nhiều người ta xem nhân vật như là những con người thực, hình dung có một “vô thức của văn bản” thuộc về tác Nghiên cứu tâm lý độc giả thị hiếu, xu hướng đọc, những chia sẻ/ không chia sẻ… Các tiêu điểm cần phân tích-Vô thức-Bản năng tính dục-Cấu trúc nhân cách- Giấc mơ- Mặc cảm Oedip-Xung đột về tâm lý-Những mâu thuẫn, bất thường trong diễn ngôn- Các chủ đề- Hiện tượng chia cắt separation- Những môtíp mất mát loss, chấn thương, lo âu, sợ hãi, ám ảnh, trầm uất, mộng du, kháng cự, tự vệ, bế tắc và hòa giải …- Hiện tượng thiếu hụt/ bù trừ, ngưng đọng/ dịch chuyển, mất trật tự về ranh giới, lẫn lộn giữa thế giới bên trong và thế giới bên ngoài, che giấu, thèm muốn, ngụy trang, thiếu ý thức về bản thân, không nối kết được với người khác…-Các từ ngữ thuộc tính dục và các biểu hiện tính dục của nhân vật- Cắt nghĩa hiện tượng tâm lý bằng nguồn gốc cá nhân/ nguồn gốc gia đình, xã hội… kiện để thực hành PBPTH-Thành thạo lý thuyết Freud- Hiểu biết thấu đáo về lịch sử thời đại hoặc về ngôn động cảm xúc ở cường độ cực khả năng phân tích và tự phân tích thường Kết luận 1. Bị định kiến của xã hội2. Phạm vi tác phẩm khảo sát hẹp3. Nghiên cứu phê bình là công việc của ý thức mâu Kỹ năng phân tích, cần kết hợp với nhiều thao tác khác, khó5. Dễ bị suy diễn khiên cưỡng mơ hồ4. PHÊ BÌNH NỮ QUYỀN FEMINISM CRITICISM Phê bình nữ quyền là gì?Là một trường phái phê bình văn học thoát thai từ phong trào chính trị xã hội đấu tranh cho quyền bình đẳng phụ nữ, phát triển mạnh mẽ vào giữa thế kỷ XX, chủ trương xác lập một nền mỹ học, lý luận văn học và sáng tác văn học riêng cho giới Những dung hợp• Phê bình Nữ quyền văn bản• Phê bình Nữ quyền phân tâm học• Phê bình Nữ quyền hậu cấu trúc luận• Phê bình Nữ quyền duy vật• Phê bình nữ quyền hậu hiện đại• Phê bình nữ quyền và đồng tính• Phê bình nữ quyền hậu thuộc địa• Phê bình nữ quyền và kỹ thuật thân Gợi ý phương pháp tiếp cận nữ quyền- Chọn văn bản- Chú ý tác giả-Khảo sát nhân vật- Khảo sát điểm nhìn-Khảo sát hệ chủ đề-Phân tích diễn ngôn-Lý Các câu hỏi khi đọc nữ quyền?- Nên chọn văn bản nào? truyền miệng/ viết cũ/ mới, đàn bà/ đàn ông, tự sự/ trữ tình?-Tác phẩm được thừa nhận/ bị quên lãng/ bị phê phán?-Các nhân vật nào mang tư tưởng nữ quyền?-Các nhân vật nào mang số phận nữ giới? Kết luậnPhê bình văn học Nữ quyền có lịch sử không dài, phát triển theo hướng phân nhánh và dung hợp với các trường phái khác. Phê bình nữ quyềnPhê bình nữ quyền quan tâm đến con người trong mối quan hệ bất bình đẳng giới. Trước một thời đại mà mọi hệ quy chiếu đều đặt vào quyền lực của nam giới, các nhà đấu tranh cho nữ quyền đã đứng lên lật lại vị trí đứng cho nữ giới trong xã hội. Lý thuyết về quyền lực của nữ giới đã bênh vực cho quyền lợi và những khát vọng của người phụ nữ. Phê bình nữ quyền là đọc các tác phẩm văn học bằng cái nhìn mang tính nữ để từ đó khám phá ra những bất bình đẳng trong quan hệ giữa các giới và đồng cảm hơn cho thân phận của người phụ mặt lý thuyết, phê bình nữ quyền chủ trương xác lập một nền mỹ học và lý luận phê bình văn học và sáng tác văn học cho nữ giới. Phê bình nữ quyền trong quá trình tiếp cận các sáng tác sẽ tìm ra những đặc điểm trong lối viết của các tác giả, những đặc điểm chung – riêng nhằm khái quát hóa một quy luật cho việc tiếp cận các tác phẩm sau này dễ dàng và có quy chuẩn. Bên cạnh đó, từ hệ thống lý luận cho phê bình nữ quyền, các tác giả tạo ra một chu trình ngược lại hỗ trợ cho quá trình sáng tác, tạo nên một xu hướng văn học nữ đáng chú PHÊ BÌNH HẬU THỰC DÂN POSTCOLONIAL CRITICISM5. bình Hậu thực dân là gì?Là trường phái phê bình thuộc phạm trù hậu hiện đại, chủ trương đi tìm trong tác phẩm văn học các dấu vết của chính sách thực hiện vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ tác phẩm Orientalism 1978 của Edward W. Said và tiểu luận "Postcolonial Criticism" 1992, Homi K. Bhabha. Phê bình hậu thực dân chịu ảnh hưởng PB Marxist, Phê bình Giải Cấu trúc và tư tưởng Michel Foucault .5. 2. Các khái niệm chính?Cái khác Other/ Sự khác biệt DifferenceChủ nghĩa độc tôn MonocentrismTính nước đôi AmbivalentTính lai ghép HybridityTính bắt chước MimicVăn học hậu thực dân Post-colonialist literatureSự đề kháng ResistanceChủ nghĩa quốc gia NationalismDiễn ngôn hậu thực dân Postcolonial discourseDiễn ngôn thực dân Colonial discourse Đối tượng-Văn học trong các nước thuộc địa/ văn học ở các nước thực dân-Văn học trong thời kỳ bị chiếm đóng/ Văn học từ thời kỳ bị chiếm đóng đến nay-Những hệ quả mà chính sách thực dân để lại trên đời sống văn học áp đặt, ảnh hưởng, kháng cự, tái tạo, những mâu thuẫn trong tâm thức dân tộc tự tôn/ tự ti, hoài cổ/ chạy theo cái mới, văn hóa, lịch sử bị phân mảnh, cắt vụn.“Người dân thuộc địa có rất nhiều quá khứ nhưng lại không có lịch sử” Nguyễn Hưng Quốc- “Văn học hậu thực dân” có các chủ đề chính+Sự biến đổi hay sự ăn mòn văn hóa xã hội Dường như mỗi khi nền độc lập được hình thành, một vấn đề chủ yếu lại nảy sinh; đâu là đặc trưng văn hóa mới?+Sai lầm trong đường lối vận dụng quyền lực và khai thác Mặc dù đã không còn bị lèo lái như một thuộc địa, người dân bản xứ dường như vẫn còn bị áp chế bởi những người định cư tại đây. Câu hỏi đặt ra là, ai là kẻ thực sự nắm quyền ở đây, và làm sao để ngày Độc lập thực sự mang ý nghĩa độc lập?+Sự tan rã và chuyển hóa của thuộc địa Chủ đề này thường được đưa ra để khảo cứu về cá nhân thay vì về tổng thể miền đất hậu thuộc địa. Những con người cá nhân thường tự hỏi mình; trên đất nước mới này, điều gì phù hợp với mình và mình có thể kiếm sống bằng cách nào?+Ứng dụng văn học Anh ngữ người ta có thể hỏi liệu ta có thể đạt được yêu cầu mục đích của các môn học hậu thuộc địa, ví dụ như phân tích văn học và văn hóa hậu thuộc địa, mà không quan tâm tới những tác phẩm văn học được viết bằng ngôn ngữ gốc của các quốc gia hậu thuộc địa hay Những gợi ý về phương pháp Triển khai từ các khái niệm xem mục Chú ý các yếu tố sau trong văn bản-sự hòa trộn của tái hiện và thực tại hoặc về việc lẫn lộn tái hiện với thực tại-mặc cảm tự ti/tự tôn dân tộc-những khúc xạ- những đồng hóa- sự tái hiện lịch sử- quá khứ và hiện tại, tái hiện và thực tại- bạo lực đế kháng cự/ tuân phục- quyền lực về kinh tế, quyền lực về tình câu hỏi thường gặp khi đọc Phê bình Hậu thực dân-Các văn bản văn học tái hiện, hiển lộ hay ẩn ngầm, các phương diện của các áp chế thực dân như thế nào?-Văn bản tiết lộ những gì về sự phức tạp trong bản sắc hậu thuộc địa, bao gồm mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa và bản sắc cá nhân, và những vấn đề như ý thức kép, và sự lai tạp?-Những người hay nhóm người nào được định nghĩa là “người khác” hay kẻ xa lạ trong tác phẩm? Những người/nhóm người đó được miêu tả và đối xử như thế nào?-Văn bản tiết lộ những gì về mặt chính trị / tâm lý của làn sóng chống thực dân?-Văn bản tiết lộ những gì về những tác động của sự khác biệt văn hóa – cách thức mà sắc tộc, tôn giáo, giai cấp, phái tính, định hướng giới tính, tín ngưỡng văn hóa, và phong tục kết hợp với nhau tạo nên bản sắc cá nhân – trong việc định hình nhận thức của chúng ta về bản thân và người khác, và về thế giới mà chúng ta đang sống bên trong?-Văn bản trả lời hay đưa ra nhận xét đối với những nhân vật, đề tài, hay giả thuyết của một tác phẩm thực dân được đề cao như thế nào?-Các nền văn học của các cộng đồng hậu thuộc địa có những điểm chung quan trọng nào? luậnLà một trường phái tiếp cận trên xu hướng văn hóa chính trị, Phê bình Hậu thực dân ngày càng phát triển theo hướng phân nhánh ở các quốc gia Phê bình hậu thực dânNhiệm vụ của phê bình hậu thực dân chính là đi tìm những dấu vết của chính sách thực dân áp đặt lên đất thuộc địa. Hậu thực dân là giai đoạn mà người ta nhìn thấy những hậu quả mà chế độ thực dân đã thực thi với các nước thuộc địa. Tuy nhiên, phê bình hậu thực dân không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những hệ lụy đó mà còn tìm những cái biến đổi và nảy sinh trong quá trình tương tác giữa thực dân và thuộc địa. Phê bình hậu thực dân chỉ ra sự lai ghép, hiện tượng chuyển vùng/di dân để mô tả và chứng minh cho một nền văn hóa mới gọi là “đa văn hóa” được hình thành. Song song với đó là hàng loạt các đặc tính tương tự trong văn học hậu thuộc địa mà các nhà nghiên cứu luôn nhấn mạnh tính bắt chước, nước đôi, cái khác,… Những ảnh hưởng của thực dân lên các nước thuộc địa về mặt tinh thần chính là tính đề kháng và tuân phục. Các nhà phê bình đặt ra các câu hỏi liệu rằng có sự phản kháng của các nước nhược tiểu đối với các nước thống trị không hay chỉ là tuân phục, từ đó khai thác các ý nghĩa về sự thoát ly và Chủ nghĩa quốc bình đồng tính quan tâm đến con người của giới tính, nhìn nhận lại giá trị giới tính và phái tính thực sự của con người. Dưới lăng kính của phê bình đồng tính, những giới tính khác như les, gay… bên ngoài sự đối lập nhị nguyên vốn có của giới tính được thừa nhận. Tức là, con người ở giới tính thứ ba được chấp nhận như là một điều tự nhiên. Bởi vì phê bình đồng tính để cho hiện trạng giới tính thực sự của con người lên tiếng nên cũng đồng thời phản đối lại với những định kiến và rào cản mà xã hội áp đặt lên giới khác. Việc con người có một giới tính khác so với quy chuẩn xã hội đã được kiến tạo cũng không phải là một điều phi tự nhiên. Sự xuất hiện của phê bình đồng tính bên cạnh hiện tượng đồng tính kêu gọi việc đem mọi thứ trở về với trạng thái tự nhiên của chính nó. Việc phân biệt nam và nữ đã giết chết đi cái thực sự gọi là phái tính và giới tính. Con người không cần phải sống trong một cái khung bó hẹp nào mà được quyền bộc lộ bản thân họ, không phương hại đến xã hội.

các phương pháp phê bình văn học