Nó cũng có thể sinh lời từ tiền chênh lệch mua bán. Căn nhà đầu tiên của tôi sau hơn 1 năm nắm giữ bán đi lãi được khoảng 9%. Vài năm trôi qua với nhiều lần thử sức tôi nhận ra rằng để đạt lợi nhuận 10% từ BĐS là cực kỳ khó. Chiến thắng là đạt được mục đích sau một thời gian đấu tranh để khắc phục được những khó khăn, thử thách. tôi mới ngộ nhận ra phải chiến thắng chính mình bằng cách ngày đêm luyện chữ, cuối cùng chữ viết của tôi cũng có thể sánh với "rồng bay phượng Đặc biệt hơn, sự kiện Chiến Thần Tri Thức giúp người chơi mang về những bộ trang phục đắt tiền thông qua loạt câu hỏi mà nó đưa ra. Đến với mini-game này, người chơi cần đăng nhập vào trang chủ LMHT để trả lời 20 câu hỏi với nội dung xoay quanh đội Vệ Binh Tinh john carpenter (sinh ngày 24 tháng 12 năm 1968) [1] là một thí sinh của who wants to be a millionaire? phiên bản hoa kỳ. ông được biết đến nhiều nhất khi trở thành người chiến thắng giải thưởng cao nhất (1 triệu usd) trong phiên bản hoa kỳ của trò chơi này vào năm 1999. ông giữ kỷ lục giành chiến thắng lớn nhất trong lịch sử trò chơi của hoa kỳ … VỀ TÁC GIẢ CUỐN SÁCH THẾ CHIẾN THỨ 2. ANTONY BEEVOR (Sinh năm 1946) Sử gia, nhà văn trứ danh người Anh. Từng có thời gian khá dài phục vụ trong quân đội, sau khi xuất ngũ, Beevor bắt đầu viết sách, chủ yếu là các tác phẩm nghiên cứu có giá trị về các cuộc chiến nổi tiếng trong lịch sử hiện đại. mười hai tuần chiến tranh trên truyền hình, báo chí online, cùng các video social media với đại đa số nhân loại, nhưng là 84 ngày, 84 đêm máu, nước mắt, đổ nát, chết chóc, đau khổ, đói ăn, thiếu nước, không đèn điện, không gas sưởi của hơn chục triệu dân ukraina đã và đang bồng bế, giắt dìu nhau rời nhà cửa, xóm làng nổi trôi trốn trảnh tiếng tru … PFq01o. Vĩnh Chánh Một chuyện tình đẫm lệ thời chinh chiến. Thật đáng thương cho những người đã sinh ra và lớn lên trong cuộc chiến quốc cộng tương tàn thảm khốc. Chị biết anh vì hai gia đình ở chung xóm gần chợ Gia Định. Chị cũng là bạn cùng lứa với em anh từ trường tiểu học cho đến lúc vào trường Trưng Vương. Anh học Khoa Học Sài Gòn. Thỉnh thoảng anh dừng chân ở quán nhà chị ở đầu ngõ, chào hỏi vu vơ, nói đôi ba câu chuyện. Kêu chị là bé dù anh chỉ hơn chị chừng 5 tuổi. Vậy mà chị lại thích, chị có cảm giác mình thật bé bỏng khi đứng bên cạnh anh thật cao lớn, cần sự che chở của anh. Năm lên lớp 11, chị thấy anh vắng mặt một thời gian ngắn, qua nhỏ bạn biết anh động viên vào Thủ Đức. Rồi anh lại hiên ngang xuất hiện sau đó với bộ đồ hoa dù và nón Beret đỏ. Cuộc tình bắt đầu, với người yêu là một Thiên Thần Mũ Đỏ. Ở tuổi 17, chị lớn dần trong tình yêu trầm lặng của anh, trở thành một thiếu nữ chín chắn, trong khi đó đời sống nội tâm cùng sự lo sợ triền miên đôi khi khiến chị cảm thấy lạc lõng giữa chúng bạn ở lứa tuổi ô mai. Niên học 1974-1975, chị bước vào năm thứ nhất Văn Khoa. Anh vẫn miệt mài với đơn vị ở những chiến trường xa. Những lá thư yêu thương anh gửi chị chỉ ghi cái địa chỉ KBC 4784 lạ hoắc. Cuối tháng Hai 1975, anh bất ngờ có mấy ngày về phép. Đêm trước ngày trở lại đơn vị, anh đưa chị đi ăn chè góc Bạch Đằng/ Nguyễn Huệ. Ngồi quán chè, cùng nhìn ra sông Saigon, chị bỗng nghe anh nói bằng một giọng nhẹ nhàng, “Ngày mai anh trở ra lại mặt trận. Em ở nhà bình an. Chuyến đi này không biết bao giờ anh về thăm em được. Tình hình rất căng. Đôi khi anh nghĩ may ra anh bị thương thì chúng mình mới có cơ hội để thành vợ chồng!” Lẫn trong tiếng nói, chị tưởng như bên tai mình có hơi thở của anh. Vị ngọt của muỗng chè bỗng trở thành vô vị nơi cuối lưỡi. Chị quay lại nhìn anh. Hai bàn tay tìm nhau. Không, không thể chờ đến khi anh bị thương… Nhận ra bàn tay mình run rẩy trong tay anh, chị nói “Thôi mình về đi anh”. Khi lặng lẽ rời quán chè bờ sông, anh không cầm tay chị. Chắc anh không hiểu sao buổi hẹn hò bỗng bị chị cắt ngắn, đòi về. Nhìn vẻ thất vọng một cách tội nghiệp trên khuôn mặt sạm đen của anh, chị thấy thương anh chi lạ. Phải cố gắng lắm chị mới có thể nói với anh bằng giọng bình tĩnh “Mình về nhà trọ của anh đi, em có chuyện muốn nói.” Ngay khi cánh cửa phòng riêng của anh trong nhà trọ vừa khép lại, chị đứng trước anh, nhìn anh, rồi nói như sợ không còn cơ hội nào khác “Đêm nay em sẽ ở lại đây. Em muốn chúng mình thuộc về nhau đêm nay. Em không muốn chờ đợi thêm nữa.” Không chờ cho anh kịp phản ứng, chị rơi mình vào vòng tay anh, mặt đầm đìa nước mắt. Cả hai xớ rớ ngồi cạnh giường, luống cuống đến tội nghiệp. Bên cho với tê tái khắc ghi. Bên nhận trong nghiệt ngã đắn đo. Sau đó, cả hai dựa sát vào nhau; anh trầm tư ôm vai chị, che chở trìu mến, chị ngã đầu trên tay anh, nhìn lên trần nhà, mũi lòng, mặc cho nước mắt tự nhiên tuôn trào. Thương anh, thương mình, lo sợ cho số kiếp con người mong manh. Chị biết chị vừa đi ngược sự giáo dục gia đình, nhưng chị không cảm thấy nuối tiếc, vì chị nhận rõ một khi tình yêu và hy sinh để trở thành một thì không có gì tuyệt đẹp hơn là giờ phút bên nhau trong hiện tại. Y như câu truyện Một Thời Để Yêu Một Thời Để Chết.»*“Này em khăn áo vẫn còn nếp nhầuLược gương đâu có nỡ nào quên bóng hìnhNày em, chăn gối vẫn còn ấm nồngChỉ người năm cũ như bóng trăng gầy liệm cuối sông…”Đêm đầu tiên và cuối cùng có nhau, chị biết đơn vị dù của anh đang hành quân vùng cao nguyên. Ngày 10 tháng Ba năm 1975, Ban Mê Thuột thất thủ. Sau đó có tin Pleiku, Kontum bị rút vùng hành quân, anh nhờ lính hậu cứ nhắn tin cho chị biết. Và đó là lần cuối cùng chị được tin anh. Cuối tháng 3, chị được biết TĐ của anh cùng chung số phận với Lữ Đoàn 3 ND, đánh cho đến người cuối cùng ở Khánh Dương, rồi phân tán mỏng. Trên đường rút quân, đơn vị đã không tìm thấy anh. Mất tích? Tử thương? Bị bắt làm tù binh? Quả là tội nghiệp cho một thiếu nữ như chị, với chỉ danh nghĩa người yêu của lính, xuôi ngược chạy tìm tin tức của anh, từ hậu cứ TĐ đến Bộ Tư Lệnh SĐ, hoặc ủ rũ chờ đợi, nghe ngóng tin tức ở nhà anh. Ngày 29 tháng 4, người anh cả của chị, một sĩ quan HQ, chạy nhanh về nhà, hối thúc cha mẹ, thằng em trai và chị ra bến Bạch Đằng, lên thuyền rời nước. Như một người máy trôi theo dòng đời, chị ra đi mà lòng quặn đau, bất định, biết rằng từ đây mọi người vĩnh viễn mất nước. Và chị, vĩnh viễn xa rời và mất luôn cả anh. Ngày đến trại Fort Chaffee, tiểu bang Arkansas, chị mới biết mình có thai được trên 2 tháng. Trong khi cả gia đình chị bấn loạn, cá nhân chị vừa lo lắng vừa hân hoan với mầm sống của anh trong người. Qua bao nhiêu gian nan, cam go chịu khổ chịu cực, chịu cảnh gái chưa chồng nhưng có con, chị can đảm vượt thoát mọi thử thách, mọi e dè để cuối cùng định cư ở Fort Polk, tiểu bang Louisiana với một người chồng Mỹ vào năm 1984. Chị cố tạo cho mình một vườn hoa trái nơi chị nhận làm quê hương thứ hai, nhưng đa số là trái ngang trái trắc trở, trái sầu trái đắng, trái chua trái cay, là tiềm ẩn từ bao thôi thúc vương vấn, bao bùi ngùi luyến thương của mất nhau, hoài nhau không thể chối từ mà cũng chẳng thể vứt bỏ vì đó là những bám víu giúp chị can đảm sinh tồn.*Gần cuối thập niên 80, tôi tình cờ gặp chị trong một phiên trực tại phòng cấp cứu của Bệnh Viện Baynes Jones Army Community tại Fort Polk, tiểu bang Louisiana, nơi vốn là bản doanh của sư đoàn 5 cơ giới Hoa Kỳ đã có mặt tại chiến trường VN. Con gái chị, với khuôn mặt Việt Nam, khoảng 13-14 tuổi, té xe đạp, không bị thương tích nặng ngoại trừ vài vết thương trầy trụa ngoài da. Nhìn thấy tôi là một bác sĩ người Việt, chị mừng rỡ bắt chuyện. Kể từ đó, thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau đôi lần, cũng tại bệnh viện quân đội Mỹ, có luôn cả người chồng Mỹ của chị là một thiếu tá hồi hưu từng tham chiến 2 lần tại Việt Nam. Vài năm sau chồng chị qua đời vì bệnh tim, chị trở thành bệnh nhân của tôi tại phòng mạch tư. Đó cũng là thời gian tôi khám phá chị bị ung thư vú và chuyển chị qua bác sĩ chuyên khoa. Trong một lần nói chuyện dài hơn, chị mở lời tâm sự về chuyện tình của chị trong chiến tranh VN, về người cha của con gái chị. Chị cho biết chị cầu nguyện hàng ngày hầu mong biết tin tức về anh, sống chết như thế nào sau trận đánh ở Khánh Dương, nhưng không mấy hy vọng cũng như đã từng cố gắng tìm kiếm qua các cộng đồng người Việt tỵ nạn trong bao năm qua. Không lâu sau đó, chị rời vùng Fort Polk trở về sinh sống với cha mẹ chị ở Springdale, tiểu bang Arkansas.*Chào bác sĩ. BS. còn nhớ tôi không??Tôi là Kim Tiên đây…Vâng, đúng rồi Cám ơn BS. Bố mẹ tôi bình yên…Con gái tôi vừa vào năm thứ nhất Đại học cộng đồng tại cám ơn BS. Chắc cháu sẽ vui khi biết BS vẫn còn nhớ đến cháu và gởi lời thăm…Thưa BS. hiện tại ung thư của tôi ở giai đoạn cuối, các bác sĩ bên này cho biết tôi còn sống được khoảng 6 tháng nữa…Dạ. Cám ơn BS… Dạ không sao!Tôi muốn báo một tin rất vui cho BS. biết là tôi vừa tìm được tin tức của cha con gái của tôi rồi…Cám ơn BS chung vui với chúng tôi. Vâng, anh ấy vẫn còn sống tại Việt Nam…Dạ, tôi may mắn tìm ra được em gái của anh, cũng qua Mỹ với chồng theo chương trình cuối năm trời thôi BS ạ…Dạ, qua chương trình Nhịp Cầu Thân Yêu của đài Little Sài Gòn loan báo…Thưa BS., chính tôi cũng không biết được tình trạng của anh ra sao! Em gái của anh nhất định không chịu nói nhiều. Chỉ cho địa chỉ một người trung gian…Nên tôi quyết định về VN một chuyến, trước là để thăm mộ bên nội ngoại của tôi, sau sẽ tìm đến thăm anh…Dạ, tôi cùng đi với một người bạn thân quen trong nhà thờ, tôi không thể chờ con gái tôi cùng đi chung vì cháu rất bận học, mà tôi thì không còn bao nhiêu thì giờ nữa…Dạ có gì tôi sẽ cho BS biết sau…Cám ơn BS. Tôi sẽ cố gắng giữ gìn sức khỏe trong chuyến đi. Gần một tháng sau, chị gọi điện thoại cho tôi, nói nhanh giữa những cơn thở nặng và xúc động. Câu chuyện nhiều lúc bị ngắt khoảng bởi những im lặng và tiếng sụt sùi. *“Sài Gòn là đây sao em? Đường không còn lối người chen Gòn là đây sao em? Lạ sao giọng nói người không quen! Biết mấy tâm sự đành lãng quên. Xôn xao kỷ niệm lạc lối tìm…”Sau nhiều ngày bận rộn đi thăm bà con gần xa và viếng mộ đại gia đình ở Thủ Đức, chị mệt mỏi trở về Sài Gòn, ngỡ ngàng bước cô đơn giữa lòng phố đầy người. Ngày rời Sài Gòn với mảnh giấy ghi địa chỉ của anh do một người bà con với em của anh cho, chị đi xe khách đến Ninh Hòa. Từ bến xe, chiếc honda thồ chở chị đi tiếp trên con đường đất đến một làng khá xa thị xã. Đường về lối mới sao chật hẹp thu nhỏ, hoàn toàn xa lạ trong tâm trí, không một hương thơm vương vấn. Không một tiếng gọi quen thuộc. Không một câu hò ạ ơ. Và trời cũng chẳng mưa để làm ướt lòng người trở về. Ngược lại trời đổ nắng đến hoa cả mắt, nóng cháy cả người kèm theo bụi đường đỏ làm chị ngột ngạt giữa bao nhung nhớ chất chứa màu kỷ niệm của thuở tình tự. Sau vài lần ngưng dọc đường hỏi thêm chi tiết, xe ngừng trước một căn nhà nhỏ xơ xác, tội nghiệp với mái tôn đổi màu theo thời gian, có vài bụi chuối xung quanh cùng hàng cây dâm bụt phía trước. Không chần chờ, chị bước vội vào nhà. Đập ngay vào mắt là một thân hình cao, gầy gò ngồi trên một sạp tre, lưng xoay ngược hướng chị đi vào, bên cạnh là một cặp nạng. Chị ngập ngừng lên tiếng, kêu nhẹ tên anh. Thân hình ấy quay nhanh về hướng chị, cùng lúc quờ quạng chụp tìm đôi nạng gỗ. Trước mắt chị là một hình hài với chân phải cụt lên tận đầu gối, áo quần xốc xếch, tóc tai bung xung. Chị bật khóc chạy đến gần, trong một thoáng kịp nhìn thấy 2 vũng mắt lõm sâu không có tròng mắt. Chị đột nhiên khuỵ người xuống trên sàn đất, như thể toàn sức lực dành cho chuyến đi bỗng cạn kiệt. Cùng lúc ấy, bóng một người đàn bà đi nhanh từ bếp nâng chị dậy. Anh bị thương nặng ở chân trên đường rút quân, cố gắng lết xa khỏi trận chiến và ẩn núp trong bụi rậm. Ngày hôm sau, địch tìm thấy anh và bắt anh làm tù binh. Anh nghĩ vết thương ở chân phải có thể lành nếu được chữa trị với trụ sinh và đăng bột, nhưng tên y sĩ trại tù chọn cách dễ là tháo khớp gối. Sau đó anh còn bị đạn nổ trong khi nhóm lửa rừng sưởi ấm ở trại tận bên Cao Miên, khiến cả 2 con mắt của anh bị hư nặng tuy vẫn nhìn thấy rất mờ. Vì vậy anh được thả cho rời trại sớm. Trên đường khổ sở, một mình thất thểu về lại làng phố, anh bỗng gặp một người đàn bà chưa một lần quen biết, hiện tại là vợ của anh, đem anh về nhà săn sóc. Chồng trước của bà là một người lính Địa Phương Quân tử trận 2 năm trước ngày mất nước. Trong vài năm sau đó, đôi mắt anh làm độc kinh niên nên bác sĩ đành phải múc bỏ cả hai tính của anh chỉ muốn nhắc đến những giai đoạn quan trọng của trận cuối và trong thời gian khi còn là tù binh, chị không thắc mắc hỏi thêm, cũng chẳng cắt ngang cuộc độc thoại của anh bằng một giọng nói trầm tĩnh của chấp nhận số phận đã an bài, của một cam chịu không lối thoát. Chị có cảm tưởng anh chỉ thổ lộ lần duy nhất này rồi sẽ không bao giờ nhắc lại, như chôn sâu vĩnh viễn nỗi oan khiên vào bóng tối đời anh. Đời anh là một nỗi buồn khôn nguôi kết trái sầu tủi từ thuở anh trở thành kẻ chiến bại và phế nhân. Anh cố tình làm ra vẻ thản nhiên như không hề muốn chị phải đau đớn, dày vò tự trách số phận quá nghiệt ngã, cùng khốn, lỡ làng! “Trách chi người ai lỗi aiTrách chi người mi ướt cayTrách chi người thôi đã xa nhau kiếp này…Mùi thơm khăn áo ngây ngất đi vào cổ tích tôi” Chị yên lặng ngồi nghe, tiếng được tiếng không, tê tái cõi lòng, nhớ lại năm xưa có lần anh thì thầm bên chị, may ra anh bị thương thì chúng mình mới có thể trở thành vợ chồng.» Thế nhưng tuyệt đối chưa một lần chị nghĩ đến anh có thể bị thương trong cuối cuộc chiến, và cũng chưa hề nghĩ anh đã phải trải qua những giai đoạn khổ sở cùng cực như vậy. Từ một nam nhân oai hùng ngày xưa, nay anh là một phế nhân với những vết thương tàn phá nặng nề trên cơ thể. Đôi mắt ngày xưa, nơi chị thường hay nhìn vào để tìm hình ảnh của tình yêu và sức sống của tuổi trẻ mình, nay chỉ là 2 mí mắt nhíp gần nhau nằm sâu trong một khoảng màu trắng ở giữa. Giờ đây chị mới hiểu vì sao em gái của anh tránh không cho chị biết nhiều về anh. Chị bỗng cảm thấy gần gũi với vợ của anh, thầm cám ơn rằng ơn Trên sắp đặt cho anh tìm được ánh sáng dịu hiền giữa đường qua sự săn sóc, cứu vớt, nuôi nấng, bao bọc, che chở, yêu thương của người vợ này. Như một bà tiên hiện ra nguyên vẹn để dẫn dắt, cưu mang, nâng đỡ chàng Thiên Thần Mũ Đỏ của chị trong sa cơ thất thế, khi cánh dù bị chà đạp, tan tác trong cuộc đổi đời. Chiều hôm ấy, chị không từ chối khi vợ anh mời chị ở qua đêm tại đây, cả hai cùng nhau tâm sự dưới một ngọn đèn vàng úa duy nhất của nhà, nhất là sau khi nghe chị cho biết anh từng là người yêu đầu đời của chị. Càng về khuya, chuyện trò càng cởi mở hơn, bấy giờ chị mới từ tốn cho vợ chồng anh biết là chị có thai với anh ngay trong đêm trước khi anh rời Sài Gòn về lại đơn vị cuối tháng 2, 1975. Con gái của anh sinh vào cuối tháng 11, 1975; chị đặt tên cho con là Kim Ngân, ghép từ nửa tên của chị và nửa tên của anh, nay con gái được 19 tuổi và đang học đại học gần nhà. Vợ anh liên tục nắm chặt tay chị và kéo chị ngồi sát vào mình, một cử chỉ che chở, chia sẻ, thông cảm và đầy thân thiện trong suốt câu hoàn toàn im lặng, hai tay ôm đầu mình. Thỉnh thoảng 2 vai có rung nhẹ. Mãi sau khi chị dứt, anh mới nhẹ nhàng hỏi là con gái có biết câu chuyện giữa anh và chị, và biết anh là cha không. Con gái anh, chị trả lời, chỉ biết cha nó là một sĩ quan Nhảy Dù, tử trận và mất xác khi cuộc chiến VN gần đến hồi kết thúc. Ngay cả mục đích đi tìm anh trong chuyến về VN của chị, chị cũng hoàn toàn giấu con gái. Chỉ một điều duy nhất chị không tiết lộ cho anh và vợ anh biết là chị đang bị ung thư vào giai đoạn cuối. Tối hôm đó, sau khi đọc kinh cầu nguyện cám ơn, chị có một giấc ngủ thật an lành dù lạ nhà, một phần có lẽ vì đi đường quá mệt, phần kia vì chị đã đạt được mục tiêu chính của chuyến bao nhiêu cầu xin, bao nhiêu thấp thỏm đợi chờ mong mỏi tin tức, nguyện vọng ấp ủ từ bao năm qua nay được đáp ứng và trở thành sự thật. Trước đây, bao thương nhớ, bao hình ảnh về anh và sự mất anh trong đời, những suy sụp tinh thần của một người đàn bà di tản mang thai, những oan trái mòn mỏi trong xót xa; những gian khó thử thách trong đời sống mới, những gượng cười trong lệ sầu; những năm nuôi dạy con một mình; những cô đơn tinh thần khi sống bên cạnh người chồng Mỹ với bao dị biệt văn hóa, ngôn từ; những mệt mỏi thể xác qua bao lần xạ trị, hóa trị, thuốc cũ thuốc mới, những sợi tóc xanh phai màu rơi rụng; những đau đớn chán nản khi căn bệnh trở nặng; những lo âu suy tính về tương lai con gái rồi đây sẽ mồ côi mẹ… Tất cả đã tạo cho chị một tình trạng trầm cảm nặng nề. Nhưng giờ đây, chị vô cùng mãn nguyện tìm thấy anh, nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt, biết anh đã sống sót qua chiến tranh, dù bị tàn phế trầm trọng nhưng bù lại anh có một người bạn đường luôn bên cạnh, săn sóc yêu thương anh. Hơn nữa anh còn có đứa con gái và đứa con trai. Sáng hôm sau, đứa con trai của anh, nhỏ hơn con của chị gần 3 tuổi, ở nhà ông bà ngoại cạnh trường trung học huyện, về kịp chào chị trước khi chị lên đường. Chị cũng đã kín đáo trao tặng tất cả số tiền lớn còn lại cho vợ anh đêm qua. Chị có hứa với vợ chồng anh là chị sẽ kể cho con gái của anh tất cả câu chuyện giữa anh và chị, không một giấu giếm, luôn cả thương tật của anh và hoàn cảnh hiện tại của vợ chồng anh. Để trả lời câu hỏi của vợ anh, bằng một giọng mong manh sâu tận đáy lòng, chị run run xúc động cho biết sẽ trở về lại thăm vợ chồng anh nếu sức khỏe cho phép. Sau khi chào tạm biệt vợ chồng anh và chúc nhau an lành, hai người đàn bà ôm xiết chặt nhau, mắt chớm lệ, gần gũi trong cảm thông trân quý. Anh vẫn đứng yên bên khung cửa trước nhà, chan hòa trong ánh sáng ấm ban mai.. Chị vội bước nhanh đến chiếc xe thồ đang đợi. Xe rồ máy chở chị đi. Không nhìn lui, bình an trong lòng, chị ngước nhìn trời. Một màu xanh tuyệt đẹp. Không mây. *“Sài Gòn ngày xưa đâu em? Mộng mơ ngày tháng tuổi hoa Gòn ngày xưa đâu em? Từng con đường phố mình thân quenDĩ vãng đâu về, buồn ngẩn ngơ. Bao nhiêu mong đợi lạc bến chờ” Chị Kim Tiên đã không về lại VN lần thứ hai. Chị chết trong bình an vào giữa tháng 5, 1994. Cháu Kim Ngân điện thoại cho tôi biết, theo lời yêu cầu của Mẹ, cháu đang sửa soạn về thăm cha trong mùa hè này, mang theo chiếc xe lăn cũ của Mẹ cùng một số tiền lớn từ bảo hiểm nhân thọ của mẹ để lại cho cha. Ước mong cháu Kim Ngân sẽ nuôi nấng và gìn giữ chuyện cổ tích của cha và mẹ mình. Phản hồi Báo xấu64 Lượt xem03/08/2022Không được đăng tải lại nội dung khi chưa có sự cho phép của nhà sáng tạoMaoshulaoqi 0 Người theo dõi 236 Videos 1.[Am] Tôi nó sinh ra nhằm chinh chiến mới quen nhau mà thương mến Nó quê ngoài [Dm] kia từ lâu [E7] lắm chưa lần [Am] về Ngày tôi gặp [E] nó nét đăm chiêu đêm nhập ngũ Thấy thương nhau nhiều [E7] quá. [Am] Ba tháng trong quân trường cam go đã chai tầm hồn lính mới Nó luôn bảo [Dm] tôi đừng than [E7] oán chi cuộc [Am] đời Vì khi nhịp [E] súng vẫn đêm đêm vang vọng [E7] mãi Tao mày nào được [Am] vui. ĐK Hôm chia [G] tay hai đứa cùng bùi [C] ngùi Ngày mai nó [E7] tôi trên ngưỡng cửa cuộc [Am] đời Dặn nhau gắng [Dm] vui, dù cho vành [F] môi sẽ khô mấy cũng mỉm [E7] cười. Hai năm sau [G] mới có thư [C] về Nhìn con dấu [E7] ghi nơi nắng cháy biên [C] thùy Người quen cho biết [Am] tin Bạn tôi thân [E] mến đã liệt oanh ngã [E7] xuống khắp đơn vị tiếc [Am] thương. 2. [Am] ôi đứa đôi nơi ngày đầu tiên biết tin nhau là tin cuối Chát cay đầu [Dm] môi chiều khu [E7] chiến mưa sụt [Am] sùi Nhìn trong lòng [E] giấy nét quen xưa nghiêng đổ gãy Nó đi nhưng còn [E7] đấy. [Am] Muôn lớp trai đi nghìn sau theo dấu chân đi vào thiên lý Biết bao người [Dm] trai nợ xương [E7] máu không trở [Am] về Người đi vào [E] tôi vẫn lưu danh cho đời [E7] mãi Nó anh hùng ngày [Am] mai. Hợp âm guitar sử dụng Bài hát cùng thể loại 1. Một chiều cuối [D] tuần mưa bay lất [G] phất và mây trắng giăng [D] giăng Em [Bm] đến... 167098 1. Chúng mình không còn yêu nhau thì [Am] thôi Em nói ra [G] đi trắng đen một [C] lời... 70883 1. Thôi em theo [Am] chồng làm [C] cô dâu xứ [Am] lạ Bao nhiêu ân [F] tình giờ tim... 64548 1. Từ một [Am] ngày từ ngày mới yêu [F] nhau Mình hằng [Dm] mơ không dang dở tình [Am]... 150096 1. Ta xa rồi em [Em] nhé, đường em, em bước [Am] vui Đừng về bên gác [C] trọ, để... 151903 Bài hát cùng tác giả 1. Đã từ [Am] lâu tôi vẫn thường trong bóng [F] đêm Mang nỗi [A7] buồn không biết [Dm] tên... 198172 1. Tôi trở về [E7] đây lúc đêm vừa [Am] lên Giăng mắt trời [F] mưa phố xưa buồn [C]... 160635 1. Mình có ba [Am] người vừa đúng nét đôi mươi Những chiều mây lưng trời tầm mắt hướng xa... 157100 nhé em đừng nhiều hận [D] sầu Đừng thương [Bm] tiếc để rồi xa [A] xôi Đừng trách [Fm]... 154243 1. Giữa [Dm] lòng trời khuya muôn ánh sao hiền Người trai đi viết câu chuyện một chuyến bay [Gm]... 133580 Bình luận 16 Nghe bài hát Đặng Thế Luân Bm Your browser does not support the audio element. Bảo Tuấn Bm Your browser does not support the audio element. Giang Tử Am Your browser does not support the audio element. Băng Châu & Huy Sinh Bm Your browser does not support the audio element. Trường Vũ Bbm Your browser does not support the audio element. Nhật Trường Bm Your browser does not support the audio element. Tuấn Vũ Am Your browser does not support the audio element. Giao Linh Fm Your browser does not support the audio element. Phi Nhung Gm Your browser does not support the audio element. Giang Tử trước 75 Abm Your browser does not support the audio element. Giao Linh trước 75 Gm Your browser does not support the audio element. Nhật Trường trước 75 Cm Your browser does not support the audio element. Hương Lan Gm Your browser does not support the audio element. Thanh Tuyền Am Your browser does not support the audio element. Video liên quan Lk Nó Và Tôi & Những Ngày Xưa Thân ÁiTác giả Song Ngọc & Phạm Thế MỹCa sỹ thể hiện Duy Trường & Thành An & Quỳnh Dung; Hứa Như ÝTôi nó sinh ra nhằm chinh chiến mới quen nhau mà thương mến. Nó quê ngoài kia từ lâu lắm chưa lần về. Ngày tôi gặp nó nét đăm chiêu đêm nhập ngũ. Thấy thương nhau nhiều quá. Ba tháng trong quân trường cam go đã chai. Nó Và Tôi là ca khúc nhạc lính nổi tiếng mà hầu như ai yêu nhạc vàng cũng đều biết đến những câu hát và giai điệu đã trở thành bất tử Tôi nó sinh ra nhằm chinh chiến mới quen nhau đã thương mến… Đây là một sáng tác chung của 2 nhạc sĩ Song Ngọc và Vọng Châu. Cái tên Song Ngọc thì đã quen quen thuộc, còn Vọng Châu thì không có nhiều người biết thực ra đây là một bút danh của nhạc sĩ Hoài Linh. 2 nhạc sĩ Song Ngọc và Hoài Linh có khoảng cách về tuổi tác khá lớn, Hoài Linh hơn Song Ngọc đến 23 tuổi, có thể xem là cách nhau cả một thế hệ, nhưng họ lại vô cùng thân thiết và đã cùng nhau hợp soạn nhiều bài nhạc vàng nổi tiếng Chiều Thương Đô Thị, Chúng Mình 3 Đứa, Một Chuyến Bay Đêm, Thiệp Hồng Anh Viết Tên Em, Nó Và Tôi… Tôi nó sinh ra nhằm chinh chĭến mới quen nhau mà thương mến Nó quê ngoài kia từ lâu lắm chưa lần về Ngày tôi gặp nó nét đăm chiêu đêm nhập ngũ Thấy thương nhau nhiều quá Ba tháng trong quân trường cam go đá chai tầm hồn lính mới Nó luôn bảo tôi đừng than oán chi cuộc đời Vì khi nhịp sűng vẫn đêm đêm vang vọng mãi Tao mày nào được vui… Click để nghe Nhật Trường hát Nó Và Tôi trước 1975 Bài hát Nó Và Tôi là câu chuyện về 2 người lính mới, cùng vào trong quân trường Quang Trung trong 3 tháng. “Nó” được mô tả là một người ở quê xa đã lâu chưa về thăm lại, tuổi đời còn trẻ có nét đăm chiêu và mang nặng suy tư về cuộc đời, về trách nhiệm của một người trai sinh ra trong thời binh biến. Có lẽ những suy tư trăn trở đó cũng là tâm trạng chung của những người lính mới, chưa kịp bước chân vào đời đã vội khoác lên người chiếc áo nhà binh, vì đồng cảm với nhau nên họ thấy thương nhau thật nhiều. Nhưng sự bỡ ngỡ và niềm suy tư đó sẽ qua rất nhanh, chỉ sau 3 tháng quân trường thì tâm hồn người lính mới sẽ trở nên chai sần, vẻ bề ngoài sẽ rắn rỏi phong sương vì phải dầm mưa dãi nắng trên thao trường khắc nghiệt. Dù gian khổ nhưng những người đồng đội vẫn luôn an ủi nhau không than oán cuộc đời, vì khi mà nhịp sűng kia vẫn còn vang vọng mãi thì làm sao có thể trọn vẹn được niềm vui. Hôm chia tay hai đứa cùng bùi ngùi Ngày mai nó tôi trên ngưỡng cửa cuộc đời Dặn nhau gắng vui, dù cho vành môi se khô mấy cũng mỉm cười Hai năm sau mới có thư về Nhìn con dấu ghi nơi nắng cháy biên thùy Người quen cho biết tin. Bạn tôi thân mến đã liệt oanh ngã xuống khắp đơn vị tiếc thương Sau 3 tháng quân trường cam go, những môn sinh của quân trường sẽ chia tay nhau để trở thành các tân binh ra đi về khắp các miền biên địa, họ cùng dặn nhau là cố gắng vui để đối mặt với muôn ngàn gian nguy. Nhưng rồi chỉ 2 năm sau. nhận được tin buồn từ nơi biên thùy gió cát, rằng bạn thân mến đã hiên ngang nằm xuống cùng đất mẹ, để lại biết bao nhiêu tiếc thương. Gặp nhau trong 3 tháng, sau đó đôi đứa ở đôi nơi suốt 2 năm trường, thật đau xót khi “ngày đầu tiên biết tin nhau là tin cuối”, và khu chiến cũng làm cơn mưa đổ bùi ngùi như là để khóc thương người ngã xuống ôi đứa đôi nơi ngày đầu tiên biết tin nhau là tin cuối Chát cay đầu môi chiều khu chiến mưa sụt sùi Nhìn trong lòng giấy nét quen xưa nghiêng đỗ gãy Nó đi nhưng còn đây… Muôn lớp trai đi nghìn sau theo dấu chân đi vào thiên lý Biết bao người trai nợ xương máu không trở về Người đi vào tối vẫn lưu danh cho đời mãi Nó anh hùng ngày mai… Hàng hàng lớp lớp người trai đã lên đường, như là sự tiếp bước cha ông nghìn xưa đi giữ nước, và dù có biết bao nhiêu người đã không trở về thì sự hy sinh đó cũng không là vô ích, tiếng thơm đã để cho nghìn đời sau này, vì người ngã xuống cho non sông gấm vóc được bình yên… Trong lời đề tựa trên tờ bài nhạc phát hành năm 1969, nhạc sĩ Song Ngọc – khi đó cũng là một quân nhân – đã ghi Niềm thương cảm kính dâng những anh hùng đã ra đi vì quê hương đất mẹ. Chiến hữu Vy Hoàng Bản quyền bài viết của

tôi nó sinh ra thời chinh chiến